Danh sách các tab/trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn 1-CHUYỆN CỦA BIỂN.. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 1-CHUYỆN CỦA BIỂN.. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2019

Con đường dưới đáy biển

(sưu tầm, trích đăng)    

“Con đường Bimini” (Bimini Road) được phát hiện và công bố trước thế giới vào năm 1968. Nó dài khoảng 580m, hình chữ J, nằm tại vùng nước nông của hòn đảo Bimini cách bờ biển Miami Hoa Kỳ gần 100km về phía Đông. Những khối đá dựng nên "con đường" này làm bằng một loại đá gọi là beachrock. Các hình ảnh cho thấy đây là một công trình nhân tạo, được xây dựng vào một thời kỳ rất xa xưa.

Các hòn đá được tạo hình để xây dựng bến cảng và con đê chắn sóng. Nhiều nhà khoa học cho rằng bến cảng này đã rất cổ xưa, được xây dựng khi mà vùng đất này vẫn còn nằm phía trên mực nước biển. Một số cho rằng bến cảng này đã từng hoạt động ít nhất khoảng 12.000 năm trước.Người ta còn tìm thấy hàng chục tảng đá dùng làm neo thuyền, với dấu vết các sợi dây xỏ qua lỗ đá. Điều này chứng tỏ "Con đường Bimini" là tàn tích của một bến cảng đã từng hoạt động.

 Vào năm 2006, một "con đường" tương tự như thế được phát hiện cách vị trí của "Con đường Bimini" khoảng 1,6km. Trước đó nó bị cát biển che phủ, và sau một trận bão năm 2006, sóng đã bóc trần lớp cát đi để lộ ra công trình cổ đại này.

Cuối năm 2006 và tháng 6/2007, hai đoàn thám hiểm đã đến Bimini nghiên cứu. Người ta áp dụng cả hai phương pháp quan trắc địa hình dưới đáy biển và phương pháp sonar (định vị thủy âm) tại một vài địa điểm. Họ đã tìm thấy một dải các cấu trúc cách Bimini vài km về phía Tây tại độ sâu hơn 30m. Máy tính cùng với phương pháp sonar đã phát hiện vô số các mẫu vật hình chữ nhật dưới đáy biển. Họ cũng tìm thấy các cột trụ tròn bằng ximăng hoặc đá cẩm thạch làm liên tưởng đến các bến cảng Địa Trung Hải thời cổ đại. Tuy nhiên không thể khẳng định Bimini là một bến cảng La Mã. Trong thực tế, vùng đất La Mã cổ đại cách đảo Bimini tới 5.000km ở phía bên kia đại dương. Ta chỉ có thể khẳng định là công nghệ xây dựng tại Bimini có những nét tương tự với của La Mã cổ đại. Thêm nữa, có những dấu hiệu cho thấy những cây cột này được dựng lên để thay thế cho những chỗ đã bị hư hại từ trước đó, có thể là của những công trình còn cổ xưa hơn nhiều.

 Tại sao công trình này lại nằm dưới đáy biển, điều gì đã xảy ra cho hải cảng tiền sử này? Tại sao lại có nhiều công trình cùng chung số phận với nó như vậy? Ai là chủ nhân đích thực của nhiều công trình dưới đáy biển, khi giám định cho thấy chúng đã tồn tại trước nhiều ngàn năm so với những nền văn minh sớm nhất của chúng ta? Nền văn minh Lưỡng Hà, nền văn minh cổ Trung Hoa, nền văn minh cổ Ai Cập và nền văn minh cổ Ấn Độ không phải là điểm bắt đầu của lịch sử nhân loại. Với những dữ liệu và bằng chứng khảo cổ thu thập được càng ngày càng nhiều hơn, đã đến lúc cần phải xem xét lại toàn bộ lịch sử loài người một cách nghiêm túc.

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2019

Các dòng chảy gần bờ


(bài của một vận động viên lướt ván sóng Florida, trích dịch)

DÒNG XOÁY TỪ BỜ (RIP).

Có một vài tình huống gây ra dòng nước mạnh. Sóng lớn gây ra dòng nước mạnh. Những con sóng vỗ mạnh vào bờ rồi phải tìm đường trở lại biển. Điều này có thể gây ra cái đã được biết tới là “dòng xoáy từ bờ” – một dòng nước chuyển động nhanh, chảy từ mép bờ biển đi ra và kéo theo những người lướt ván sóng, kẻ bơi lội.

Nếu bạn bị rơi vào đó, đừng cố gắng chống chọi lại với nó, nó sẽ chẳng cuốn bạn tới Mêxicô đâu. Lúc đó bạn ra khỏi dòng xoáy bằng cách bơi song song với bờ. Sau đó, những con sóng sẽ đưa bạn vào bờ. Dòng nước xoáy thường có màu hơi khác những vùng nước xung quanh. (Lưu ý: Dòng xoáy từ bờ không liên quan gì tới thuỷ triều. Cụm từ “xoáy nước thuỷ triều” là không đúng cho những dòng xoáy kiểu này ở Florida).

Đây là hiện tượng không huyền bí, không khó dự đoán, đã tình cờ đe dọa nuốt chửng những người bơi lội vô tội. Dòng xoáy từ bờ được tạo thành khi sóng đẩy những khối nước lớn vào bờ. Tất cả chỗ nước đó phải tìm đường quay lại biển. Nước tích tụ lại cho đến khi thành một lượng lớn, tạo ra “dòng chảy ngược” và đổ ra biển. Nếu có sóng lớn, sẽ có những dòng xoáy từ bờ. Bạn có thể học cách nhận ra chúng ngay sau khi bạn biết bạn phải cần biết những gì.

DÒNG CHẢY DỌC BỜ (CHẢY SONG SONG VÀ MEN THEO BỜ BIỂN).

Gió lớn cũng gây ra dòng nước mạnh. Loại dòng nước này thường là những dòng chảy dọc theo bờ biển và rất thông dụng, ngay cả khi chỉ có sóng rất nhỏ. Nó cuốn bạn đi một quãng khá xa trước khi bạn kịp nhận ra rằng bạn bị đẩy đi xa như thế. Nó gây rắc rối hơn bất kì thứ gì khác: Bạn xuống nước ở điểm A và lên bờ tại điểm B, và bạn sẽ không tìm thấy cái khăn tắm bạn “làm mốc” hiện đang ở nơi đâu.

DÒNG CHẢY QUA EO BIỂN.

Một luồng nước lớn chảy qua một cái kênh hẹp sẽ tạo ra một dòng nước mạnh. Điều này xảy ra thường ngày ở hầu hết các eo biển. Eo biển là cái kênh hẹp và dòng nước ở đây sẽ mạnh nhất khi thuỷ triều lên và xuống. Tôi không khuyên bạn bơi ở gần eo biển vào bất kì thời gian nào. Do 98% thời gian không có dòng chảy mạnh trên bãi biển bên trong Vịnh, nên nếu bạn bơi trong bãi biển của Vịnh thì rất ít có khả năng bạn phải đương đầu với dòng chảy mạnh.

Đừng đánh giá thấp sức mạnh của những con sóng, đặc biệt là tại bờ biển Đại tây dương. Nếu bạn là người có kinh nghiệm với sóng và bơi giỏi thì đó là chuyện nhỏ, nhưng hầu hết những người lần đầu đến Florida đều bị bất ngờ bởi sức mạnh các con sóng. Nếu bạn không có kinh nghiêm lướt sóng thì đừng lướt sóng tại đây, như vậy bạn có thể sống sót để bơi vào ngày tiếp theo. Cách tốt nhất để học chế ngự những con sóng là cách mà người địa phương thường áp dụng. Bạn hãy bắt đầu với những con sóng nhỏ và dần dần, bạn sẽ thử sức với những con sóng lớn hơn khi kinh nghiệm của bạn tăng lên.

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2019

Lặn xác tàu sân bay của Đức Quốc xã (P2)

(Tiếp theo và hết)

Sàn đáp – Hầm chứa máy bay

Sàn đáp của Graf Zeppelin có cấu trúc bằng thép và được lót gỗ, dài 242 m và rộng tối đa 30 m. Sàn đáp được nâng đỡ bởi các trụ chống thép. Các sàn chứa máy bay trên và dưới của Graf Zeppelin dài và hẹp, bên hông và hai đầu không được bọc giáp. Các xưởng sữa chữa, khoang chứa và chỗ nghỉ của thủy thủ được bố trí phía ngoài các sàn, một đặc điểm thiết kế tương tự như các tàu sân bay Anh.
Sàn chứa phía trên có kích thước 185m×16 m; trong khi sàn chứa dưới có kích thước 172m ×16 m.

Tổng cộng diện tích sàn chứa máy bay được sử dụng là 5.450 m2, đủ để chứa 41 máy bay: 18 chiếc máy bay ném bom – ngư lôi Fieseler Fi167 trong sàn chứa bên dưới; 13 máy bay ném bom bổ nhào Junkers Ju 87C và 10 máy bay tiêm kích Messerschmitt Bf 109T trong sàn chứa bên trên.
Vũ khí

Graf Zeppelin được trang bị pháo khác nhau cho nhiệm vụ phòng không và chống tàu nổi. Vũ khí đối hạm chủ yếu của nó bao gồm 16 khẩu pháo 150mm bố trí trên 8 tháp pháo nòng đôi.Vũ khí phòng không chính bao gồm 12 khẩu pháo 105 mm bố trí trên 6 tháp pháo nòng đôi, ba phía trước và ba phía sau.

Dàn hỏa lực phòng không phụ của Graf Zeppelin bao gồm 11 khẩu đội SK C/30 nòng đôi 37 mm bố trí trên các bệ nhô dọc theo mép sàn đáp: 4 khẩu đội bên mạn phải, sáu bên mạn trái và một ở phần mũi tàu. Thêm vào đó, 7 khẩu súng máy MG C/30 20 mm trên các bệ nòng đơn bố trí hai bên mạn tàu: 4 bên mạn trái và ba bên mạn phải; sau đó được đổi thành các khẩu đội bốn nòng.

Máy bay trên hạm

Nhiệm vụ dự định ban đầu của Graf Zeppelin chủ yếu là trinh sát di động trên biển, nên các máy bay được thiết kế cho nó cũng phản ảnh rõ: 20 máy bay cánh kép Fieseler Fi 167 dùng để tuần tiểu và tấn công bằng ngư lôi, 10 máy bay tiêm kích Messerschmitt Bf 109T và 13 máy bay ném bom bổ nhào Junkers Ju 87.

Do ảnh hưởng đường lối tác chiến sử dụng tàu sân bay của Nhật Bản, Anh Quốc và Hoa Kỳ (từ vai trò trinh sát thuần túy sang các nhiệm vụ tác chiến tấn công) số máy bay trên hạm của  Graf Zeppelin được đổi thành 30 chiếc máy bay tiêm kích Bf 109 và 12 máy bay ném bom bổ nhào Ju 87.

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2019

Lặn xác tàu sân bay của Đức quốc xã (P1)

Vào ngày 12/7/2006, chiếc RV St.Barbara, thuộc công ty dầu khí Ba Lan Petrobaltic, tìm thấy xác một con tàu dài 265m ở gần cảng Leba (một báo cáo của BBC cho rằng cách 55 km về phía Bắc Wladyslawowo), mà họ cho rằng có thể đó là chiếc Graf Zeppelin. Ngày 26/7/2006, tàu thăm dò ORP Arctowski thuộc Hải quân Ban Lan, tiến hành khảo sát. Ngay ngày hôm sau, Hải quân Ba Lan chính thức xác nhận đó chính là Graf Zeppelin ở độ sâu 87m. Năm 2009, một nhóm thợ lặn đã xin được giấy phép của Chính phủ Ba Lan để lặn xác tàu này.

Graf Zeppelin là tàu sân bay duy nhất của Đức được hạ thủy trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Graf Zeppelin chưa bao giờ được Hitler sử dụng xung trận, nhưng nó biểu tượng cho sức mạnh của Hải quân Đức lúc bấy giờ.

Thân tàu. 


Graf Zeppelin được chia thành 19 ngăn kín nước, sự phân chia tiêu chuẩn dành cho mọi tàu chiến chủ lực của Hải quân Đức. Vỏ giáp của nó có độ dày thay đổi (100mm bên trên các khoang động cơ và hầm đạn phía sau, 60 mm trên hầm đạn phía trước và 30 mm trước mũi, vỏ giáp phía đuôi 80 mm để bảo vệ bánh lái). Lớp vỏ giáp ngang có khả năng bảo vệ trước các cuộc tấn công bằng bom và đạn, lớp giáp này có độ dày chung là 20 mm ngoài trừ khu vực chung quanh trục thang nâng và ống khói, nơi độ dày được tăng lên 40 mm nhằm giúp cho các thang nâng có sức mạnh cần thiết và các ống khói mang tính sống còn chống mảnh đạn tốt hơn.

Động cơ. 


Hệ thống động cơ của Graf Zeppelin bao gồm 16 nồi hơi La Mont áp lực cao, tương tự như kiểu dùng cho lớp tuần dương hạm Admiral Hipper. Bốn 4 turbine hộp số được nối liền với bốn trục, được hy vọng sẽ sản sinh công suất 150.000 kW và đưa chiếc tàu sân bay đạt được tốc độ tối đa 35 hải lý/h (65 km/h). Với trữ lượng nhiên liệu tối đa 5.000 tấn dầu đốt, tầm hoạt động được tính toán của Graf Zeppelin là 9.600 dặm (15.400 km) ở tốc độ 19 hải lý/h (35 km/h).
(còn nữa)

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2018

Một số thông tin về địa chất của đại dương


 (trích đăng)

- Diện tích đại dương chiếm 71% bề mặt trái đất (khoảng 362.000.000km2) và chứa 97% tổng lượng nước trên trái đất.

- Độ sâu trung bình của đại dương khoảng 3.720m. Điểm sâu nhất là 11.033m ở vũng Mariana, tây Thái Bình Dương.
- Tổng chiều dài đường bờ biển trên thế giới vào khoảng 506.835km.
- Chiều dài các dãy núi dưới đáy đại dương khoảng 64.000km. Núi cao nhất là Mauna Kea, Hawaii, độ cao tính từ đáy đại dương là 10.203m và tính từ mặt nước biển là 4.170m.
- Nhiệt độ bình quân của các đại dương là 2ºC (35,6ºF). Nhiệt độ đóng băng ở các đại dương vào khoảng -1,9 độ C.
- Ước tính các đại dương chứa khoảng 50 triệu tỷ tấn các chất hòa tan, như muối clorua natri, canxi, magie, ... Các đại dương chứa khoảng gần 20 triệu tấn vàng.

- Các đại dương hấp thụ từ 30% đến 50% lượng CO2 được sinh ra từ sự nóng chảy của các nhiên liệu hóa thạch. CO2 được hấp thụ và vận chuyển xuống bởi sinh vật phù du.
- 90% các hoạt động núi lửa xảy ra trên trái đất đều tập trung ở đại dương, trong đó nhiều nhất là ở Nam Thái Bình Dương.

- Đại dương cung cấp 99% không gian sống cho các sinh vật tồn tại được trong môi trường nước mặn, trong đó hơn 90% môi trường sống này tồn tại ở vùng biển sâu được gọi là vực thẳm.
- Tỉ lệ tăng trung bình của mực nước biển vào khoảng 10-25cm trong vòng 100 năm qua. Mực nước biển sẽ tiếp tục tăng ngay cả khi khí hậu đã ổn định, bởi vì đại dương phản ứng chậm với sự thay đổi của môi trường.
- Trên toàn thế giới có khoảng 4.000 rạn san hô lớn, tuy nhiên 60% có khả năng biến mất trong vòng 3 thập kỉ tới. Nguyên nhân chính là do con người và sự nóng lên của bề mặt trái đất.
- 80% ô nhiễm ảnh hưởng đến biển và đại dương xuất phát từ các hoạt động trên đất liền.
- Khoảng một nửa dân số thể giới sống ở ven biển (tính từ bờ biển trở vào khoảng từ 60km đến 100km).
- Nguồn thức ăn chính của hơn 3,5 tỷ người phụ thuộc vào các đại dương. Trong 20 năm, con số này có thể tăng đến 7 tỷ người.

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018

Thành phố Heraclet dưới đáy biển


 (trích đăng)

“Thành phố của Herecleion” (tức Hê ra clet – nếu gọi theo Thần thoại Hy lạp, hay Hec quyn – nếu gọi theo Thần thoại La mã), nơi nữ hoàng Cleopatra đăng quang, được ví như "thành phố Atlantis của Ai cập" đã từng là một trong những trung tâm giao thương quan trọng ở khu vực Địa trung hải từ 1.200 năm trước. 

Sau khi bị nhấn chìm và trở thành Vịnh Aboukir ngày nay, thành phố Herecleion mới được phát hiện vào năm 2001. Sau hơn một thập kỷ khai quật và khảo cổ, các nhà nghiên cứu đã mô phỏng được bản đồ về thành phố cổ đại này. 12 năm trước, nhà khảo cổ học đại dương, Tiến sĩ Franck Goddie, đã khảo sát khu vực bờ biển Ai cập nhằm tìm kiếm chiến thuyền Pháp trong chiến trận sông Nile từ thế kỷ 18. Thay vì tìm được chiến thuyền, ông đã tìm ra những kho báu của một thành phố cổ đại.

Sau khi nạo vét bùn và cát, các thợ lặn đã tìm ra những bằng chứng về một thành phố là trung tâm giao thương cách đây hơn 1.000 năm. Các nhà khảo cổ học phát hiện ra tàn tích của hơn 64 con tàu, bị chìm sâu dưới đáy biển, nằm cách bờ biển Ai Cập hơn 7km. Thêm vào đó, các đồng tiền vàng, bạc cùng tác phẩm đá và tượng khổng lồ thời Ai cập và Hy lạp cổ đại cũng được tìm thấy.

Hiện tại, sau khi tái tạo thành công bản đồ 3D, các nhà nghiên cứu và khảo cổ đang tiếp tục đi tìm lời giải về nguyên nhân thành phố này bị nhấn chìm.

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2018

Một bài viết về Similan – Thái lan


(trích đăng)
Similan bắt nguồn từ tiếng Malay có nghĩa là 9 vì quần đảo Similan gồm 9 đảo nhỏ bắt đầu từ Bắc xuống Nam: Koh Ba Ngu (No. 9), Similan (No. 8), Payu (No. 7), Koh Hok (No. 6), Koh Ha (No. 5), Koh Miang (No. 4), Koh Payan (No. 3), Koh Payong (No. 2) và Koh Huyong (No. 1).
Similan Islands mang một vẻ đẹp hùng vĩ tráng lệ khó tả bằng lời nhờ hệ sinh thái dưới biển rất phong phú, các quần thể động thực vật dưới biển vô cùng đa dạng. Similan Islands là một trong những đảo đẹp nhất trên thế giới vẫn còn giữ được nét hoang sơ ban đầu.
Trạm dừng chân đầu tiên của bạn sẽ là Koh Ba Ngu (đảo số 9) – một nơi rất lý tưởng để snorkelling. Tới đây, bạn sẽ có cơ hội ngắm rặng san hô uốn cong gọi là “Breakfast Bend” được phủ đầy sea fans, sự phát triển của staghorns và những dải đá ngầm san hô. Đặc biệt hơn, đây là nơi ánh mặt trời rọi xuống nước đầu tiên vào buổi sáng. Vì thế, nếu ra ngoài sớm, bạn sẽ thấy những con cá nhỏ hơn sẽ trở nên to hơn. Khi lặn ở Koh Ba Ngu, bạn sẽ ngắm được nhiều loài sinh vật lạ như: sea fans, Predatory lion fish, snapper.
Tiếp đến, bạn sẽ dạo chơi ở Koh Similan (đảo số 8), là đảo lớn nhất của Similan Islands. Hòn đảo có hình dáng móng ngựa này nổi tiếng có view đẹp. Hoạt động được các du khách thích nhất khi đến đây là trèo lên đường mòn tới Sailing Boat Rock – một biểu tượng của Koh Similan để nhìn toàn cảnh đại dương từ trên xuống. Phía Bắc của đảo có 3-4 chóp núi nổi lên trên nước nhìn như tranh vẽ. Những máy chụp hình có độ zoom cao là thiết bị không thể thiếu ở những nơi như thế này. Khung cảnh đẹp tuyệt vời của Koh Similan sẽ đem lại cho bạn nhiều shot ảnh đẹp. Đây cũng là một điểm lặn đẹp nhìn yellow fusiliers và nhiều loài nudibranches.
Điểm dừng chân tiếp theo là Koh Payu (đảo số 7). Hòn đảo nổi tiếng có nhiều rặng san hô đẹp. Deep Six nằm về phía Bắc của đảo được xem là “dive site” đẹp thứ hai sau Christmas Point. Tên Deep Six ngụ ý rằng bạn có thể lặn sâu tới trên 60m. Những núi đá cuội độc đáo trong lòng biển tạo nên các con đường, hẻm núi, đường hầm để bạn bơi qua. Có cả một vườn san hô với những gorgonian sea fans lớn nhất còn tồn tại nguyên vẹn hay loài bọt biển barrel sponges to lớn.
Địa điểm cuối cùng trong hành trình tham quan là Koh Miang (đảo số 4). Đây là đảo lớn thứ hai sau Koh Similan và cũng là văn phòng của National Park. Nơi nàycó đầy đủ tiện nghi, phục vụ tốt cho việc nghỉ dưỡng: điện 24/24, máy điều hòa, nhà gỗ có view ra biển, lều cắm trại, thậm chí còn có trạm hải quân hoàng gia Thái Lan bảo vệ bờ biển và trong trường hợp cần cứu nạn, cứu hộ, đó sẽ là trung tâm trợ giúp đầu tiên.

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2018

Đảo Langkawi của Malaysia

(bài trên kenh14.vn, trích đăng)

Nằm ở phía Tây Bắc thủ đô Kuala Lumpur, đảo Langkawi cách đất liền khoảng 30 km từ bờ biển Tây Bắc Malaysia. Langkawi là một quần đảo gồm 104 hòn đảo, trong đó có 5 đảo chìm lộ ra khi thủy triều xuống.

Langkawi còn có tên là “đảo Đại bàng”. “Langkawi” là sự kết hợp giữa hai từ "Lang" và "Kawi". "Lang" là từ gốc tiếng Malaysia, trong từ helang nghĩa là đại bàng, còn “Kawi” là loại quặng mangan ở địa phương. Ngư dân xưa nhìn thấy đại bàng cắp đá mangan bay trên trời nên đã đặt tên cho quần đảo như vậy. Trong quá khứ, quần đảo này là nơi cư ngụ của vô số đại bàng. Hiện một số đảo vẫn là nơi sinh sống của đại bàng. Có lẽ vì thế mà hình ảnh đại bàng trở thành biểu tượng của nơi này.
Trong cuốn sách viết về "Những huyền thoại của Langkawi" (The Legends of Langkawi), tác giả Tun Mohamed Zahir cho rằng, tên Langkawi có gốc từ tiếng Sanskrit (Ấn độ cổ), trong đó "Langka" là đẹp và "Wi" là vô cùng.

Các đảo ở Langkawi được bảo tồn khá tốt với những khu rừng nguyên sinh và nhiều loại động vật quý hiếm.


Langkawi được ghi nhận khá sớm, từ khoảng năm thứ 500. Sau đó bị Xiêm chinh phục, rồi chuyển sang người Anh. Hòn đảo được độc lập ngay sau khi Malaysia được Anh trả lại độc lập.

Cư dân bản địa kể về truyền thuyết của Makam Mahsuri - khu lăng mộ của Mahsuri: Một nàng tiên nữ vì trót yêu giọng hát ngọt ngào của chàng đánh cá nên đã trốn xuống trần sinh sống. Thượng đế biết được, gọi nàng trở về nhưng nàng không về, thế là nàng bị biến thành một hòn đảo chơ vơ giữa đại dương. Dấu vết còn lại của tình yêu lãng mạn đó là một hồ nước ngọt trên hòn đảo nhỏ này. Giữa biển khơi lại có một hồ nước ngọt quanh năm. Người già trên đảo nói rằng, xưa kia quần đảo này từng là căn cứ của những băng cướp biển. 

Nhưng người dân bản địa lại tin rằng nước hồ chữa được bệnh hiếm muộn. Không rõ nước ở hồ này có chữa được bệnh hay không, nhưng các nhà khoa học đã xác định nước hồ có chứa nhiều nguyên tố kali và kẽm - dưỡng chất cần thiết cho mọi người, đặc biệt là nam giới. Bởi vậy du khách đến đây đều muốn mang một ít nước về.

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017

Cá heo và cá voi bị mắc cạn là do con người?

Bộ Bảo tồn New Zealand cho hay, gần đây, người dân phát hiện 107 con cá voi hoa tiêu trên bờ biển thuộc đảo Stewart Island, trong đó chỉ còn 48 con còn sống. Do không thể đưa đàn cá voi trở lại biển, các nhân viên cứu hộ của Bộ Bảo tồn quyết định giết những con còn sống để giúp chúng thoát khỏi tình trạng đau đớn (theo AFP).

“Chúng tôi nhận ra rằng nỗ lực giải thoát đàn cá voi cần ít nhất 10 tới 12 giờ. Trong điều kiện thời tiết khô và nóng, chúng sẽ chết trước khi công việc được thực hiện xong”, người phát ngôn của Bộ Bảo tồn giải thích.

Ngoài ra, theo người phát ngôn, một cơn bão cũng sắp đổ xuống bãi biển nên tính mạng của các nhân viên cứu hộ và người tình nguyện có thể bị đe dọa nếu họ cố gắng đưa cá voi trở lại biển.

Cá voi hoa tiêu – có độ dài tối đa tới 6 m – là loài cá voi phổ biến nhất tại các vùng biển của New Zealand. Chúng thường xuyên bị mắc cạn tập thể trên những bờ biển đầy đá. Hồi đầu tháng này 14 con cá voi hoa tiêu chết sau khi dạt vào thành phố Nelson thuộc đảo South Island. Tháng trước 24 con mất mạng do dạt vào bờ biển gần mũi Reinga ở miền bắc New Zealand.

Giải thích tại sao cá voi hoa tiêu thường mắc cạn tập thể, một số người cho rằng chúng lao vào bờ do sóng siêu âm của chúng bị nhiễu loạn trong tầng nước nông hoặc do một con ốm bị lạc hướng và những con khác bám theo.

Một số người khác cho rằng, nguyên nhân chính là do con người – tàu thuyền, tiếng động của máy công nghiệp và các thiết bị phát sóng âm – đã gây nhiễu cho cá voi, kiến chúng bị mất định hướng hoặc hoảng loạn mà lao lên bờ.

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

Kho báu lớn nhất dưới đáy biển

(Sưu tầm, trích đăng)

Người ta đã trục vớt được một kho báu trị giá 500 triệu USD, bị chôn vùi trong lòng Đại Tây Dương cùng con tàu chuyên chở nó bị đắm hồi thế kỷ 17. 

Công ty Odyssee, Mỹ, người khai quật, cho biết, nó gồm nửa triệu đồng tiền vàng, bạc và nhiều đồ quí giá khác, được đúc từ thế kỷ 17. Trị giá ước tính là 500 triệu USD. Nó vượt qua con số 400 triệu USD của một kho báu cực lớn khác đã tìm thấy vào năm 1985.

Địa điểm chính xác của kho báu này chưa được Mr.Greg Stemm - người sáng lập Công ty “Odyssee” - tiết lộ. Chỉ biết rằng nơi đây có nhiều tàu bè bị đắm. Báo chí phỏng đoán kho báu này cách bờ biển nước Anh khoảng 70 km về hướng Tây Nam. Mr.Greg Stemm hé lộ: “Chúng tôi rất vui mừng và bị cuốn hút bởi những đồng tiền có lịch sử lâu đời này, những người sưu tập tiền cổ chắc chắn sẽ rất quan tâm nếu họ được thấy chất lượng và các hoa văn chạm khắc trên những đồng tiền này”. Đến nay họ vẫn chưa đưa ra tên quốc gia đã từng sở hữu kho báu này.

Trước đó, kho báu lớn nhất được tìm thấy vào năm 1985, là chiến thuyền Nuestra Senora de Atocha của Tây Ban Nha, bị bão nhấn chìm tại vùng biển Florida năm 1622 và được Mel Fisher, một người chuyên tìm kho báu dưới đáy đại dương, phát hiện.

Công ty Odyssee mới có thâm niên 13 năm trong lĩnh vực tìm kho báu nhưng đã gặt hái được nhiều thành công. Năm 2003 họ phát hiện được kho báu gồm 50.000 đồng tiền kim loại quí dưới đáy đại dương. Hiện họ đang lần theo dấu vết con tàu HMS Sussex của Anh đã mang theo 9 tấn vàng chìm xuống lòng đại dương năm 1694.

Người ta cho rằng, đây là kho báu lớn nhất nằm dưới đáy biển của mọi thời đại. 

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Cá bơi như thế nào

(Sưu tầm, trích đăng)

Tỷ trọng (density) hay tính chất của nước nói chung làm cho việc di chuyển trong nước tương đối khó khăn, nhưng cá đã di chuyển trong nước rất nhanh và dễ dàng.

Cá bơi dựa trên việc lấy bộ xương làm khung, cơ làm bộ phận tạo lực (power), và các vây để đẩy (for thrust) và định hướng bơi. Tác dụng bộ xương của cá phức tạp nhất trong số các động vật có xương. Sọ (skull) hoạt động như đòn bẩy (fulcrum), là phần tương đối vững chắc (stable) của cá. Cột sống như cái đòn bẩy (lever), tham gia vào tất cả sự chuyển của cá.

Góp phần vào quá trình bơi của cá, thì thân là đáng kể nhất. Các cơ cung cấp công (power) tới 80 % cho hoạt động bơi. Các cơ được sắp xếp theo nhiều hướng (multiple directions) (myomeres), cho phép cá di chuyển bất cứ hướng nào. Một sóng hình sin (sinusoidal) chạy dọc đầu tới thân và các vây cung cấp “nền, đòn” để đưa (exert) lực đẩy từ các cơ của cá vào trong nước.

Khi cá bơi, có các lực sau diễn ra:
- Cùng chiều với hướng vận động của cá: lực đẩy (thrust)
-Ngược với chiều của lực đẩy, nằm ở góc bên phải: lực nâng (lift)
-Ngược chiều với chiều chuyển động của cá: Lực kéo (drag). Lực kéo gồm có lực ma sát của nước lên thân cá, áp lực của nước tác động lên phần đầu cá, và lực quay (vortex) ở phần đuôi. Cá hạn chế các lực kéo này hình dạng cơ thể (hình thoi) và tiết nhớt (slime)trên da.
Khi lực đẩy lớn hơn lực kéo, cá bơi về trước.


Các kiểu bơi của cá:

Dựa vào lối sống và đặc điểm sinh lý của cá, người ta chia hình thức bơi của cá làm 2 dạng:
- Bơi liên tục (Cruising): Cá thuộc nhóm này bơi hầu như liên tục, không nghỉ. Ví dụ như cá ngừ, trong cơ của cá này, thành phần cơ đỏ với nhiều mạch máu, các tế bào giàu ty thể và myoglobin, cung cấp nhiều năng lượng qua quá trình phân giải hiếu khí.
- Bơi gián đoạn (brusting): Nhóm cá này không bơi liên tục, mà thường hay đứng trong nước. Hầu hết cá sống trong rạn san hô thuộc về nhóm này.

Các yếu tố tham gia vận động và vai trò của chúng:

Tham gia tích cực vào hoạt động bơi của cá gồm có thân và các vây. Thân được cấu tạo bởi cơ vân, còn đơn vị cấu tạo của các vây là các tia vây.
Các vây đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển chuyển động của cá, vừa cung cấp lực nâng, lực đẩy, đồng thời đóng vài trò như cái phanh. Cá phải biết điểu khiển chuyển động lên xuống, phải trái và chuyển động quay của nó.
- Vây đuôi cung cấp lực đẩy và điều khiển hướng của cá.
- Vây ngực hầu như đóng vai trò như các rudders (bánh lái) và hydroplane để điểu khiển chuyển động lên xuống (pitch), sang phải sang trái (yaw), và phanh.
- Vây bụng hầu như để điều khiển vận động pitch (lên xuống), và:
- Vây hậu môn điều khiển vận động tròn (roll).

Ngoài ra, hình dạng cơ thể cũng góp phần rất lớn vào việc bơi lội của cá. Liên quan đến đặc điểm bơi, người ta chia cá làm 4 nhóm:

- Nhóm cá có cơ thể hình thoi (fusiform): Đại diện là cá ngừ, hình dạng cơ thể tương tự như hình dạng quả ngư lôi (torpedo), giúp cá bơi với tốc độ cao.

- Nhóm cá có cơ thể mảnh, dài (attenuated shape)như cá chình (eel). Hình dạng này có thể giúp cá trườn, lắc cơ thể, lách vào tận các kẽ nứt để săn mồi.

- Nhóm cá có cơ thể dạng nén do chịu áp lực cao (depressed shape)như cá đi câu (angler fish): hình dạng này thuận lợi cho việc "ngồi và đợi" (sit and wait) mồi.

- Nhóm cá dẹt (compressed shape): tìm thấy ở cá rặng san hô như cá butterfish, hình dạng này giúp cá cực kỳ nhanh nhẹn trong việc chuyển động xung quanh rạn san hô và tăng tốc bất
ngờ.

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2016

Một số loại "biển đặc biệt"

1. Biển giữa lục địa.

Biển giữa lục địa thường ăn sâu vào đất liền, thông với đại dương bằng các eo biển hẹp, không để cho sự trao đổi nước với đại dương thật dễ dàng.
Những biển này có chế độ thủy văn nổi bật như: thủy triều không lớn, nhiệt độ nước từ độ sâu nào đó tới đáy biển có tính chất đồng kiểu. Độ sâu đó thường là nơi có các sống ngầm (đỉnh các dãy đồi, núi ngầm), phân cách những độ sâu lớn của đại dương.
Các loại biển giữa lục địa được hiểu bao gồm biển giữa các lục địa (giữa 2 hay 3 lục địa) như Địa Trung Hải, hay biển nằm trong một lục địa như biển Catxpien, biển Aral, biển Baltic.

2. Biển ven lục địa.

Biển ven lục địa tách với đại dương bằng chuỗi các đảo, đôi khi bằng các bán đảo. Quan hệ của những biển này với đại dương chặt chẽ hơn so với Biển giữa lục địa.
Tại các biển này, thủy triều từ đại dương vào thật dễ dàng, các khối nước biển có tính chất phù hợp nhiều với khối nước của đại dương tiếp cận, các hải lưu phụ thuộc nhiều vào hải lưu của đại dương.
Một số biển ven lục địa: biển Nhật Bản, biển Bering, biển Đông của Việt Nam.

3. Vịnh.

Theo Từ điển Dầu khí do Tổng Hội Địa chất Việt Nam xuất bản năm 2004 thì "Vịnh là vùng nước rộng ăn sâu vào đất liền, nơi đường bờ biển có dạng đường cong lớn. Vũng là vùng nước có những đặc điểm tương tự nhưng nhỏ hơn vịnh".
Theo “Từ điển Địa chất giải thích” (Nguyễn Văn Chiển và NNK, 1979) thì "Vịnh là phần biển ăn sâu vào lục địa, có cửa mở rộng ra phía khơi với chiều rộng đáng kể. Vũng biển là phần biển ăn sâu vào lục địa, nối với ngoài khơi thường chỉ bằng các khe, lạch không lớn... Vũng biển còn được gọi là vịnh nhỏ".

Tuy nhiên chúng ta thường hay nhầm lẫn giữa "vịnh lớn" (Gulf), "vịnh" (Bay) và "vũng" (small bay) nên thường hay nói "Vịnh Bắc Bộ" (Gulf of Tonkin), "Vịnh Hạ Long" (Ha Long Bay), "Vịnh Bái Tử Long" (Bai Tu Long Bay) hoặc "Vịnh Cam Ranh" (Cam Ranh Bay).

Để phân biệt rõ hơn các khái niệm "vịnh lớn", "vịnh" và "vũng" và vũng, có thể tham khảo Từ điển Địa chất Mỹ xuất bản năm 1987, tái bản năm 2001. Theo đó thì "Vịnh (bay) là một vùng nước biển hay hồ rộng lớn, mở hoặc nằm giữa hai mũi nhô ven bờ hoặc các hòn, các đảo nhỏ ven bờ. Vịnh lớn hơn vũng (cove, small bay) nhưng nhỏ hơn, nông hơn những vùng nước biển và đại dương lớn được ôm bởi những vòng cung bờ biển dài thông với đại dương được gọi là vịnh lớn (gulf)".

Theo định nghĩa trên thì Vịnh Bắc Bộ là một vịnh lớn và bao gồm cả Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long (là hai vịnh nhỏ), còn vịnh Cam Ranh nên gọi là Vũng Cam Ranh.

4. Vụng. 

Vụng là những vịnh có kích thước không lớn, được bảo vệ chống sóng gió bởi các mõm nhô ra biển. Một số vụng ở Việt Nam: vụng Đà Nẵng, vụng Dung Quất, vụng Qui Nhơn, vụng Văn Phong...

5. Vũng cạn.

Vũng cạn là loại vịnh cạn ăn lõm sâu vào đất liền, có các doi đất hoặc các cồn đất ngăn ở cửa vụng. Vũng cạn chính là thung lũng đoạn cửa sông hay vùng hạ du bị ngập đầy nước biển. Một số vũng cạn ở Việt Nam: vũng Nước Ngọt ở Bình Định, cửa Tráp ở Nghệ An...

6. Phá.

Phá kéo dài dọc theo bờ biển, là một "vịnh" cạn chứa nước mặn hay nước lợ, được nối với biển bằng những eo không lớn hoặc hoàn toàn tách biệt với biển bằng các doi đất.
Phá còn có thể là các kho nước biển nằm trong lòng các vành đảo san hô (atoll).
Có những phá mà bờ của nó kéo dài hàng nghìn km (vịnh Mexico bãi cạn ngăn cách phá với biển dài 1800 km). Ven bờ biển Việt Nam có phá Tam Giang.

7. Khe fio.

Khe fio là những vụng hẹp, nước sâu, ăn rất sâu vào đất liền, có bờ đá cao và rất dốc. Nguồn gốc các khe fio có quan hệ tới các sông băng kỷ băng hà. Khe fio điển hình là Conxky ở biển Bắc Âu.

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2016

Cổ vật từ đáy biển Việt nam

(Sưu tầm, trích đăng)

Năm 2006, Vũng tàu khai mạc phòng trưng bày "Cổ vật từ đáy biển Việt nam”. Hơn 1.000 cổ vật ở đây hầu hết là những hiện vật được trục vớt từ 10 con tàu bị đắm từ đầu thế kỷ thứ 15 đến cuối thế kỷ thứ 19, dọc theo bờ biển Việt nam từ Quảng nam đến Cà mau. Từ những con tàu hàng bị đắm dọc theo bờ biển Việt nam, các chuyên gia khẳng định rằng ít nhất từ khoảng thế kỷ thứ 15, khu vực biển Việt nam đã có vị trí trên “con đường tơ lụa trên biển” và thương nhân Việt nam đã tham gia vào con đường này.

Xác tàu đắm trên vùng biển Bà rịa - Vũng tàu:

-Tàu cổ Lộc an (trục vớt tại bờ biển) Bình châu - Xuyên mộc: hơn 1.000 hiện vật, đa phần là đồ gốm gia dụng, trắng, vẽ lam, xuất xứ từ các lò gốm Nam Trung hoa vào cuối thế kỷ 19.

-Tàu cổ Bãi Dâu: 105 hiện vật, khá phong phú về chủng loại và kiểu dáng (gốm, sứ, pha lê, thủy tinh...) sản xuất tại Pháp vào giữa thế kỷ thứ 19 do Công ty Biedermann & Co-Saigon đặt làm, đặc biệt có một bình đất nung trang trí hình chim phượng.

-Tàu cổ Hòn Bà: 569 hiện vật, phần lớn là gốm dân gian liên quan đến nghề làm mắm ở miền Nam Trung bộ, một số gốm sứ thời Ung Chính nhà Thanh.

-Tàu cổ Hòn Cau, Côn đảo: nhiều hiện vật gốm sứ (gốm men trắng hoa lam và gốm men trắng) đa dạng về loại hình, kiểu dáng của các lò "Cảnh Đức Trấn" (Giang tây), "Sơn Đầu" (Phúc kiến, đời Khang Hy, 1690). Có hiện vật mang phong cách châu Âu hoặc thể hiện cả hai phong cách trên cùng một hiện vật. Đặc biệt có 7 khẩu thần công được đúc vào thời Gia Tĩnh (nhà Minh, 1522-1566)  lần đầu tiên được tìm thấy ở Việt nam (Bãi Rạng, Bà rịa - Vũng tàu).

Vùng biển khác:

-Tàu cổ Cù lao Chàm - Hội an: là một kho báu đồ sộ. Chỉ riêng đồ gốm thương phẩm Chu Đậu (Hải dương, thế kỷ 15) đã gồm 240.000 hiện vật. Ngoài hàng hóa, đồ dùng, thực phẩm, người ta còn tìm thấy xương sọ của một phụ nữ khoảng 20 tuổi có đặc điểm nhân chủng Thái.

-Hai con tàu cổ tìm thấy ở Cà mau (1998) và Bình Thuận (2001): khoảng 200.000 đồ gốm sứ Trung quốc.

-Tàu cổ Hòn Đầm - Phú quốc: khoảng 10.000 đồ gốm gia dụng Sawankhalor (Thái lan, nửa đầu thế kỷ thứ 15) mang một phong cách rất riêng bởi kỹ thuật khắc chìm phủ men bên ngoài.

Thứ Ba, 22 tháng 3, 2016

Hãy nhìn, nhưng không chạm tay

(Sưu tầm, trích dịch)

Hãy nhìn, nhưng không chạm tay – bạn đã nghe điều này từ khi nhập môn lặn. Nhưng bây giờ bạn đã là kẻ có nhiều giờ lặn, bạn đã trưởng thành, bạn không phải nghe bất cứ ai hoặc một cái gì đó giống như thế. Tại sao bạn không chọc ngón tay vào một khe đá để kiểm tra xem có gì trong đó ?

Đầu tiên và quan trọng nhất, đó là sự an toàn của bạn. Bạn chọc ngón tay vào khe đá, ở đó có thể chẳng có gì, nhưng nó cũng có thể là nhà của một con cua, lươn moray hoặc một động vật biển có gai độc.

Thứ hai, bạn là
động vật trên cạn. Bạn không có vây, có mang, bạn vụng về, lóng ngóng trong lòng biển. Nhiều sinh vật dưới biển mỏng mảnh hơn so với vẻ bên ngoài của nó và bạn sẽ làm tổn thương chúng.

Thứ ba, đại dương là một nơi bí ẩn
–  ngay cả với các nhà hải dương học – và bạn không bao giờ biết hết những hậu quả từ các hành động của bạn. Một vật ẩn trong đám cỏ chân ngỗng có thể cho bạn một vết cắt.

Thứ tư, đại dương
vô cùng vĩ đại, nên ngay cả một thợ lặn đầy bản lãnh cũng chỉ là một đứa trẻ sơ sinh trước nó.

Lý do cuối cùng
, nhưng chắc chắn không phải là ít, bạn sẽ không biết là chạm vào một động vật hoặc thực vật nào đó lại bị vi phạm pháp luật của nước sở tại (trong khi có thể ở nước của bạn thì không sao). Đó là những loài động thực vật bị đe dọa được pháp luật bảo vệ. Với mọi động vật, dù lớn dù nhỏ, tốt nhất là bạn sử dụng đôi mắt, mà không có sự tham dự của bàn tay.

Lời góp của bạn Cristina Zenato (trích dịch)
Khi tôi được tiếp cận về chủ đề này, nếu một thợ lặn đã từng ăn thịt cá mập, thì người ta chuyển anh ta sang hàng ngũ bên “có”. Sau gần 20 năm nuôi và làm việc với cá mập trong khu vực kiểm soát của chúng tôi, đồng thời đi du lịch đến nhiều điểm xa xôi để quan sát chúng về “thực đơn” và sự tương tác trong các hoạt động khác của cá mập, thì câu trả lời “có/không” của tôi thường rất thận trọng.
Những năm làm việc đã chỉ ra cho tôi rằng, rất nhiều loài động vật biển đã tiếp xúc với con người nhưng chúng không bao giờ vượt qua ranh giới giữa thợ lặn cho chúng thức ăn và thợ lặn không cho chúng thức ăn. Cá mập là một ví dụ điển hình. Khi người ta buộc tội tôi đã “dạy” cá mập tấn công thợ lặn, tôi trả lời họ rằng, cá mập đã “học” được điều này (tức tấn công thợ lặn) từ việc dân chài tấn công chúng – những lưỡi câu và cây lao – với mục đích tạo nguồn thực phẩm cho chính con người.
Nếu cá mập là thực phẩm của con người, thì chúng tôi đã không bao giờ có cơ hội lặn ngắm cá mập ở Bahamas được. Trong những vùng biển chúng tôi đi qua, chỉ có một trường hợp cá mập tấn công thợ lặn. Tuy nhiên spearfishermen – những người thường xuyên đánh bắt cá – sẽ là người đầu tiên nói với bạn rằng, họ bơi lặn hàng trăm lần để săn lùng con mồi, nhưng đều không hề nhìn thấy một con cá mập. Nhưng ngay sau khi họ đâm được một con cá, thì sẽ có một con cá mập xuất hiện, như đi ra từ cõi hư không, để ăn cướp con cá bị đâm.
Qua sự hoạt động của chúng, chúng tôi đã “học” được rằng, hầu hết động vật lại tử tế hơn con người. Ăn là một hành động nghiêm trọng và nguy hiểm tiềm tàng, tôi biết điều này và đánh giá cao nó. Tôi có niềm tin vững chắc trong các thủ tục, an toàn và giao thức. Đằng sau công việc cho ăn, mà có thể xem dễ dàng, có những thủ tục để kiểm soát các thực phẩm và sơ tán của các thợ lặn, và làm việc theo nhóm bởi các chuyên gia được đào tạo.

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015

Báu vật trong xác tàu đắm ở vùng biển Việt nam


(Sưu tầm, trích đăng)


Cổ vật trong xác tàu cổ ở Cà mau

76.000 cổ vật gốm sứ đời Mãn Thanh (Trung quốc)  thế kỷ thứ 18 tìm thấy trong một xác tàu đắm ở vùng biển Cà mau đã được đem bán đấu giá tại Trung tâm Đấu giá quốc tế Sotheby, Amsterdam, Hà Lan, vào năm 2007, gồm chén, dĩa, hộp, bình, tượng..., đã mang về cho Việt nam trên 3 triệu euro. Những cổ vật này được ngư dân phát hiện vào năm 1998 tại khu vực có một chiếc tàu bị đắm ở vùng biển này. Chiếc tàu đã gặp nạn vào khoảng từ năm 1723 đến 1735 khi đưa những đồ gốm sứ này sang bán tại châu Âu.

Cổ vật trong xác tàu cổ ở Hòn Cau

Năm 1990, Bộ Văn hóa (VH-TT) cho phép khai quật kho báu Hòn Cau (vùng biển Long hải, tỉnh Bà rịa - Vũng tàu), thu được 68.000 hiện vật, hầu hết là đồ gốm sứ: bình trà, bình bông, chóe, chén, dĩa... và nhiều hiện vật bằng đá, đồng và hai khẩu súng thần công. Kho báu được xác định là một chiếc tàu cổ bị chìm cách đó một thế kỷ. Số đồ cổ này có niên đại nửa sau thế kỉ 17, thời vua Khang Hy (triều Mãn Thanh). Gần 30.000 cổ vật được đưa đi giám định và bán đấu giá ở Hà lan, thu về cho Việt nam hơn 6 triệu USD. 

Cổ vật trong xác tàu cổ ở Cù lao Chàm

Trên vùng biển Cù lao Chàm (Hội an, Quảng nam), thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ 2, quân đội phát xít Nhật bị máy bay phe đồng minh bắn chìm 158 chiếc tàu, trong đó có 5 chiếc chở báu vật cướp được tại các nước khu vực châu Á - Thái bình dương.

Có một thời vùng biển Cù lao Chàm là điểm thu hút các trùm buôn bán cổ vật xuyên quốc gia, bởi ở đó có xác tàu cổ chứa đầy đồ gốm sứ Chu Đậu, Hải dương. Vào đầu thập niên 90, ngư dân các làng chài miền Trung cũng đã lặn lấy được vô số cổ vật từ con tàu cổ này. Cho đến nay, nơi này vẫn còn tìm được các đồ cổ và Cù lao Chàm luôn tồn tại huyền thoại về những kho báu.

Cổ vật trong xác tàu cổ ở Hòn Dầm 

Tàu cổ Hòn Dầm là con tàu được phát hiện từ trước 1975. Những năm 1990, 1991 rộ lên phong trào ngư dân đi săn tìm cổ vật, từ đó, các xác tàu cổ mới thu hút sự quan tâm của công luận. Tháng 5/1991, tỉnh Kiên giang cho khai quật tàu cổ Hòn Dầm. Tàu ở độ sâu khoảng 10m, bằng gỗ, còn khá nguyên vẹn, dài 30m, rộng 7m. Hàng hóa trên tàu chủ yếu là gốm sứ men màu xanh ngọc và một số men khác như màu chì, màu da lươn, vàng, nâu... có xuất xứ từ Thái lan, thế kỷ 15. Số lượng cổ vật 10.000 cái, với nhiều loại hình.



Kho cổ vật của một nhà sưu tầm Phú yên


Ông Thuận năm đó  65 tuổi, ở Tuy hòa, Phú yên, Chủ nhiệm “Câu lạc bộ UNESCO nghiên cứu, sưu tầm cổ vật Phú yên” (CLB). Căn nhà của ông như một bảo tàng trưng bày gần một ngàn hiện vật. Hầu hết các món đồ cổ của ông đều được ông mua lại, có những món tới 10 lượng vàng. Theo các hội viên CLB, kho đồ cổ của ông có giá trị không dưới 100 tỷ đồng.


Hơn 20 năm trước, ngư dân Quảng ngãi đã phát hiện các xác tàu đắm, ở vùng biển xã Bình trị, cách bờ khoảng 500m, chở gốm sứ cổ, ở vùng biển Bình châu (huyện Bình sơn). Tất cả đều có dấu hiệu bị cháy nham nhở. Ngư dân còn trục vớt được tiền cổ bằng đồng có lỗ vuông, thuộc nhiều niên đại khác nhau. Năm 2013, nhiều ngư dân xã đảo Tam hải, huyện Núi thành, Quảng nam, đã trục vớt được hàng ngàn cổ vật ở Rạn Nhọn, cách bờ khoảng 300m và khu vực Cửa Lở ở xã đảo Tam hải. Họ đã tìm thấy nhiều ly, tách trà, chén, đĩa, bình bằng gốm, sứ có hoa văn đẹp, tinh xảo, song vẫn chưa xác định được niên đại, xuất xứ. Tuy nhiên, các chuyên gia khảo cổ cho rằng số cổ vật này khoảng 800 tuổi. Đặc biệt là tìm được 2 mảnh gỗ thân tàu cổ. Số cổ vật này được vớt lên ở khu vực có hai xác tàu chìm.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

San hô sống ở độ sâu 125 mét

Thường thì san hô sống ở độ sâu chừng vài mét tới 15 mét, bởi chúng cần ánh sáng mặt trời, thế nhưng, người ta đã tìm thấy hai loài san hô sống ở vùng ánh sáng cực yếu

(theo AFP)

Trường đại học Queensland, Úc, sử dụng robot khảo sát rạn san hô Great Barrier, tại bãi đá ngầm Ribbon, gần eo biển Torres Strait, đã phát hiện về sự tồn tại của một loài san hô sống ở độ sâu 125 mét.

Trước nay, san hô được cho là chỉ có thể tồn tại ở độ sâu đến 70 mét, nên phát hiện này sẽ đem đến sự hiểu biết mới về việc san hô sinh sôi và phát triển như thế nào. Các chuyên gia đặc biệt thích thú với việc san hô sinh sản như thế nào dưới độ sâu tới như vậy.

San hô nước cạn giao phối trong sự kiện sinh sản đồng bộ, còn ở độ sâu 125 mét sẽ rất khó. Họ nói: “Chúng tôi chưa có lời giải đáp cho vấn đề đó, có thể chúng đang làm những việc rất khác so với điều mà san hô nước cạn làm”. San hô nước sâu có thể vượt qua những cơn bão tốt hơn nhiều so với đồng loại ở gần bề mặt. Họ cũng xem xét việc axit hóa đại dương và tình trạng ấm dần lên đang tác động như thế nào đến những rạn san hô nước sâu. Họ tin chắc sẽ còn tìm được những loài san hô hoàn toàn mới so với sự hiểu biết của khoa học hiện nay.

San hô sống trong hang

Trung tâm Đa dạng sinh học, Hà lan, phát hiện loài san hô mới trong Tam giác san hô ở phía tây Thái bình dương. Chúng ở độ sâu tối đa 35 mét. Họ gọi chúng là Leptoseris troglodyta. Họ cho rằng chúng có quan hệ họ hàng với những loài san hô sống ở độ sâu lớn hơn 40 mét.
Các loài san hô thường sống cộng sinh với tảo Zooxanthellae. Tảo quang hợp để tạo ra hydratcarbon và oxy, và san hô sử dụng những chất này để tổng hợp nên canxi carbonat - “xương sống” của chúng. Nhưng do sinh trưởng trong điều kiện ánh sáng yếu, Leptoseris troglodyta không có tảo cộng sinh.


Kết quả nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa hai loài – mối quan hệ rất quan trọng đối với san hô. Khi nhiệt độ nước biển tăng – xu thế đang xảy ra trong các đại dương hiện nay – nhiều loài san hô sẽ đẩy tảo cộng sinh ra khỏi cơ thể chúng. Hiện tượng này sẽ dẫn tới cái chết của san hô. Họ nói: "Loài san hô mà chúng tôi mới phát hiện tạo nên những polyp nhỏ hơn so với những loài họ hàng của chúng và cũng phát triển khá chậm".

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Xác máy bay dưới đáy biển từ Thế chiến 2 gần như còn nguyên vẹn

(Theo Dân trí, trích đăng)

Một chiếc máy bay của Quốc gia Xã hội chủ nghĩa Đức (Đức quốc xã) hồi Thế chiến thứ hai bị bắn rơi trên eo biển Anh đã được đại dương bảo quản gần như nguyên vẹn.

Chiếc Dornier-17, mệnh danh “bút chì bay” này bị bắn rơi khi ném bom nước Anh, đã rớt xuống biển, ngoài khơi bờ Kent, đông nam Anh. Chiếc máy bay nằm ngửa dưới độ sâu khoảng 15 mét, và hồi xưa, thỉnh thoảng nhô lên một phần trên mặt đáy cát. Sau đó nó bị cát chôn vùi hoàn toàn.

Cuộc khảo sát bằng thiết bị siêu âm do cảng London (PLA) thực hiện đã phát hiện tình trạng nguyên vẹn đáng kinh ngạc của chiếc máy bay. Người phát ngôn Bảo tàng Không quân hoàng gia Anh (RAF) tại Hendon, London, cho hay, ông “rất hoài nghi khi lần thứ nhất nghe đến sự tồn tại và sự nguyên vẹn của nó”. “Đây là một trong những phát hiện quan trọng nhất trong ngành hàng không của thế kỷ này”.

Chiếc máy bay chỉ bị hư hại nhẹ, với buồng lái trước và cửa quan sát bị va chạm. Cửa thả bom mở cho thấy phi công đã thả hết bom. Hai phi công trên máy bay đã thiệt mạng, hai người khác bị bắt làm tù binh và sống sót sau cuộc chiến. Vỏ máy bay bằng hợp kim nhôm, và được sản xuất từng chiếc một, chính là lý do khiến nó “trụ” được lâu đến vậy.


Dornier-17 được thiết kế là máy bay chở khách vào năm 1934, sau đó chuyển thành máy bay ném bom thần tốc, bởi nó có khả năng bay nhanh hơn đối thủ. Tổng cộng khoảng 1.700 chiếc máy bay loại này đã được sản xuất nhưng do sức chở bom hạn chế, nên sau đó nhiều chiếc đã không được bay.