Nơi trao đổi thông tin giữa những người tham gia lặn biển. Là nơi giao lưu tán gẫu của những người quan tâm trò giải trí này
Hiển thị các bài đăng có nhãn 4-KHÁC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 4-KHÁC. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2019
Lời xin lỗi
Do có sự cố trong khâu quản trị mạng nên trang tin của chúng ta bị ngưng mất 3 tháng. May có một thành viên của trang tin này đã phát hiện và chỉnh lý. Xin lỗi các bạn lặn cùng các bạn đọc.
Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2017
Tuổi tác ảnh hưởng đến thể thao như thế nào (P3)
(tiếp theo và hết)
(tiếp theo và hết)
Đừng nên bỏ sót yếu tố cơ bắp.
Một số bằng chứng cho thấy đối
với các môn thể thao đòi hỏi sức lực hay năng lượng cao, như cử tạ, thì các hạn
chế liên quan đến độ tuổi có thể nằm ở các cơ xương, những cơ di chuyển xương
và khớp của cơ thể.
Đối với các vận động viên cử tạ
trên 40 tuổi (trình độ chuyên nghiệp), thành tích sẽ sụt giảm đột ngột so với
các vận động viên sức bền trong các môn thể thao như chạy, bơi và đua xe đạp.
Đây là điều dễ hiểu bởi cử tạ sử dụng các sợi cơ bắp loại 2 (gọi là nhóm co rút
nhanh) để tạo ra sức lực. Nghiên cứu chỉ ra những tế bào này sẽ sụt giảm về số
lượng và chức năng theo tuổi tác.
Không chỉ những tế bào này sẽ
sụt giảm theo tuổi tác, mà hiện tượng này còn xuất hiện ở các tế bào hỗ trợ sự
phục hồi và sinh trưởng của các cơ xương khi giảm thiểu việc tập luyện.
Những sự sụt giảm theo tuổi tác
này không quá rõ rệt như trong nhóm cơ loại I, những sợi cơ có liên hệ chặt chẽ
với các bài tập sức bền.
Thời gian hồi phục có thể kéo
dài lâu hơn.
Khi già đi, có nhiều vận động
viên phàn nàn rằng khả năng phục hồi từ các bài tập nặng nhọc cũng sụt giảm
theo.
Điều này có thể tác động đến
cường độ và khối lượng tập luyện của tất cả các vận động viên. Nhưng trong
nhiều môn thể thao đòi hỏi sự va chạm, như bóng bầu dục Mỹ, việc hồi phục từ
các chấn thương và ảnh hưởng tích lũy của các cú va chạm nặng đã trở thành một
nhân tố hạn chế khả năng tiếp tục thi đấu ở các cấp độ cao nhất.
Lấy ví dụ, mùa bóng năm ngoái
chỉ có hai vận động viên ở Giải Bóng bầu dục Quốc gia Mỹ NFL là Sav Rocca từ
đội Washington Redskins và Adam Vinatieri từ đội Indianapolis Colts hiện vẫn
đang chơi dù đã bước sang ngưỡng tuổi 40.
Các chấn thương cũng tác động
xấu đến những người chơi các môn thể thao không va chạm. Đối với các vận động
viên chuyên nghiệp, việc gặp phải nhiều chấn thương trong quá trình tập luyện
cũng dẫn tới sự sụt giảm cường độ và khối lượng tập luyện, dẫn tới thành tích
kém hơn trong ngày thi đấu.
Tâp luyện tốt hơn có thể giúp
duy trì phong độ đỉnh cao.
Tuy rốt cuộc tất cả các vận
động viên sẽ suy giảm trong các cuộc đua thành tích do tuổi tác, nhưng với sự
tập luyện và các bài tập phục hồi tốt hơn, trong những năm tới có lẽ chúng ta
sẽ chứng kiến nhiều hơn các vận động viên ở tầm tuổi 40 vẫn có thể tranh tài ở
cấp độ thể thao cao nhất. Bằng cách “tập luyện thông minh hơn, thay vì nặng
hơn”, các vận động viên có thể giảm thiểu nguy cơ chấn thương, tối đa hóa thành
quả từ việc tập luyện và giảm thiểu các ảnh hưởng của lão hóa.
Các vận động viên già cần nhiều
thời gian hồi phục và thích ứng với việc tập luyện, nên các kế hoạch tập luyện
cần phải thay đổi theo độ tuổi.
Lấy ví dụ, các bài tập cường độ
cao, cách quãng chỉ tập trung vào chất lượng của việc luyện tập, thay vì khối
lượng tập luyện đơn thuần, và có thể được các vận động viên già sử dụng hiệu
quả để cải thiện sức bền.
Việc tập luyện nhiều môn thể
thao đồng thời, như cử tạ và yoga, có thể giúp duy trì khối lượng và độ dẻo dai
của cơ bắp, và giảm thiểu các chấn thương do vận động quá sức ở các vận động
viên sức bền.
Việc nhấn mạnh vào các chiến
lược “phục hồi tích cực” (một cuộc chạy hay bơi thư giãn vào những ngày nghỉ)
và một thói quen ngủ nghỉ tốt hơn là điều quan trọng đối với các vận động viên
ở mọi lứa tuổi, nhưng lại trở nên đặc biệt thiết yếu đối với các vận động viên
già hơn.
Tuy nhiên, sự sụt giảm thành
tích không chỉ đề cập đến sự thay đổi thể chất. Khi chúng ta già đi, động lực
tập luyện nội tại cũng giảm dần. Ngay cả trong cộng đồng vận động viên, động
lực tập luyện có thể thay đổi từ việc đặt ra các kỷ lục cá nhân sang việc duy
trì sự sức khỏe và sự tích cực. Và đó là một động lực tuyệt vời cho tất cả vận
động viên ở mọi lứa tuổi.
Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2017
Tuổi tác ảnh hưởng đến thể thao như thế nào (P2)
(bài của anh Christopher Minson, Đại học Oregon, tiếp theo)
Tuổi tác làm biến đổi cách cơ thể chúng ta sử dụng oxy.
Một lý do chính khiến sức bền
giảm sút theo tuổi tác là do cơ thể không thể sử dụng khí oxy một cách hiệu
quả.
Khả năng sử dụng khí oxy tối ưu
(VO2max) là một chỉ số đo lường sức bền theo độ tuổi. VO2max là một giá trị
định lượng miêu tả lượng khí oxy cơ thể có thể sử dụng trên mỗi kilogram trọng
lượng.
VO2max đo lường khả năng cơ thể
đưa khí oxy đến phổi, khả năng oxy được lưu chuyển trong máu đến các cơ bắp
đang hoạt động, và lượng oxy cơ bắp có thể sử dụng để kích hoạt sự co bóp.
Tập thể dục có thể làm tăng
cường tất cả những phương diện này, và chỉ số VO2max càng cao bao nhiêu, sức
bền của một người càng lớn bấy nhiêu. Tức là, họ có thể thực hiện nhiều công
việc đòi hỏi sức bền hơn trên một trọng lượng cơ thể nhất định.
Trong nhóm người “dân thông
thường”, chỉ số VO2max có xu hướng giảm khoảng 10% sau mỗi thập kỷ khi bước qua
ngưỡng tuổi 30. Nhưng các vận động viên (vẫn tiếp tục thi đấu và tập luyện chăm
chỉ) có thể giảm lượng sụt giảm xuống còn một nửa, xuống còn 5% mỗi thập kỷ,
sau khi bước sang ngưỡng tuổi 30.
Nguyên nhân chỉ số VO2max sụt
giảm theo thời gian là vì “nhịp tim tối đa” cũng giảm dần.
Nhịp tim tối đa là chỉ số nhịp
tim cao nhất (nhịp/phút) của một người có thể đạt tới trong quá trình gia tăng
cường độ các bài tập sức bền.
Chỉ số này được dự đoán một
cách tương đối bằng công thức sau: “220 – tuổi = nhịp tim tối đa”.
Tuy nhịp tim tối đa thực sự của
một người là một đại lượng dễ biến đổi, nhưng khi bạn già đi, nhịp tim tối đa
của bạn sẽ giảm, bất kể bạn là một vận động viên cường tráng hay một người chỉ
thích nằm dài trên ghế cả ngày.
Và điều này sẽ làm suy giảm cả
hiệu suất của tim và sự vận chuyển khí oxy đến các cơ bắp, tức là khi chúng ta
già đi thì chỉ số VO2max và thành tích sẽ thấp hơn trong các môn thể thao đòi
hỏi sức bền.
Ngay cả nếu sự vận chuyển khí
oxy đến các cơ bắp bị hạ thấp, thì khả năng các cơ bắp tận dụng hiệu quả lượng
khí oxy tương thích với một khối lượng công việc nhất định sẽ vẫn được duy trì
đến ngưỡng tuổi 60 và 70, mặc dù khối lượng cơ bắp sẽ có xu hướng sụt giảm khi
chúng ta già đi, dẫn đến sự sụt giảm thành tích.
Thứ Hai, 14 tháng 8, 2017
Tuổi tác ảnh hưởng đến thể thao như thế nào (P1)
Tôi (tác giả) nhớ
lại khoảng khắc một vài năm trước (thời điểm viết bài): lúc đó tôi đang xem TV thì
chợt nhận ra rằng nếu tôi tham gia Tour de France, thì ở cái tuổi 42 tôi sẽ là
người già nhất trong giải đấu. Tôi cảm thấy buồn khi biết rằng giấc mơ tham gia
giải đua xe đạp lớn nhất hành tinh đã chấm dứt… nó sẽ không thể xảy ra.
Tôi chưa từng thi đấu, chứ chưa
nói đến việc tập đua xe đạp một cách nghiêm túc trong một vài năm.
Ngay cả trong những năm tháng
“hoàn hảo” nhất, tôi vẫn chưa đủ độ cho việc đua xe đạp. Chỉ là hiện nay tôi đã
có một lý do … Tôi đã quá già, cách quá xa khỏi những năm tháng hoàn hảo của
cuộc đời.
Vậy điều gì đã xảy ra? Liệu có
tồn tại một nguyên nhân trên phương diện sinh lý giải thích cho hiện tượng
những người bước sang giữa tầm tuổi 40 sẽ không còn có thể thi đấu tại mức độ
chuyên nghiệp ở hầu hết các môn thể thao, hay đây là do một loạt các vấn đề
ngăn trở, như thời gian dành cho việc tập luyện, động lực nội tại, việc quản lý
thời gian biểu của con cái hay công tác cá nhân bận rộn?
“Tôi đã quá già” là một luận
điệu phổ biến để bao biện cho tình trạng thành tích giảm sút trong lĩnh vực thể
thao khi chúng ta già đi. Nhưng dưới đây mới thật sự là những gì đang xảy ra
trong cơ thể qua nhiều năm, những nhân tố khiến các thành tích đẳng cấp thế
giới trở nên dần dần xa vời. Và, điều thú vị là, có một vài yếu tố sinh lý có
thể tăng cường sức mạnh thể lực nhưng dường như không bị ảnh hưởng bởi tình
trạng lão hóa.
Độ tuổi “điểm ngọt”.
Trong hầu hết các môn thể thao,
có một độ tuổi gọi là “điểm ngọt”, mà ở đó sự kết hợp giữa các khả năng vật lý,
kỹ thuật, và chiến lược hội tụ lại cùng một chỗ.
Trong hầu hết các môn thể thao,
độ tuổi điểm ngọt rơi vào khoảng tầm 25 đến đầu 30 tuổi. Tuy rằng đã có nhiều
trường hợp các vận động viên Olympic tranh tài, và đôi lúc giành huy chương,
bên ngoài ngưỡng tuổi 50, nhưng đại đa số các trường hợp này đến từ các môn thể
thao đòi hỏi kỹ năng đặc biệt và không cần nhiều sức mạnh thể lực, như bắn
súng, bắn cung, đua thuyền, đưa ngựa và đấu kiếm.
Đối với các môn đòi hỏi sức
bền, giới hạn tối đa để có thể tranh tài ở các mức độ thể thao cao nhất dường
như xoay quanh độ tuổi 40.
Chris Horner đã giành chiến
thắng trong giải đua xe đạp Vuelta a Espana năm 2013, một phiên bản Tây Ban Nha
của Tour de France, khi tiếp cận gần độ tuổi 42. Điều này đã khiến ông trở
thành quán quân già nhất của một giải Grand Tour trong lĩnh vực đua xe đạp.
Quán quân chạy marathon già
nhất ở Olympic là vận động viên người Romania Constantina Dita Tomescu. Khi
tranh tài ở Olympic Bắc Kinh năm 2008, cô đã được 38 tuổi.
Dara Torres, ở độ tuổi 41 vào
năm 2008, là vận động viên bơi lội già nhất tranh tài trong lịch sử Olympic, bở
lỡ tấm huy chương vàng trong nội dung 50 m bơi sải sau khi cán đích chỉ chậm
hơn vài phần trăm của một giây.
Nhưng những trường hợp này là
ngoại lệ, không phải hiện tượng phổ biến. (còn nữa)
Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017
Ai xếp dù cho bạn (Who’s packing your parachute?)
(Bài cũ soạn lại)
Charles Plumb là phi công phản
lực cơ Hải quân Hoa Kỳ. Sau 75 phi vụ chiến đấu, phi cơ của anh bị tên lửa đất
đối không Bắc Việt bắn hạ. Anh nhảy dù, bị bắt và bị giam 6 năm trong nhà tù Bắc
Việt. Anh sống sót và giờ đây đưa ra những bài học xương máu từ trải nghiệm ấy:
Vào ngày nọ, khi Plumb cùng vợ đang ngồi tại một nhà hàng, một kẻ từ bàn khác bước tới: “Ông là Plumb? Ông lái phản lực cơ trên tàu sân bay Kitty Hawk? Ông đã từng bị bắn rơi?”
Plumb tròn xoe mắt:“Vâng. Nhưng sao ông biết được chuyện đó vậy?”
Người đàn ông trả lời: “Tôi đã xếp dù cho ông mà”.
Plumb há hốc mồm ngạc nhiên và tỏ lòng biết ơn.
Người
đàn ông khoa tay, nói: “Tôi nghĩ là chiếc dù bọc gió tốt chứ?”.
Plumb gật đầu: “Chắc chắn rồi. Nếu không thì tôi đâu có mặt ở đây hôm nay”.
Plumb gật đầu: “Chắc chắn rồi. Nếu không thì tôi đâu có mặt ở đây hôm nay”.
Plumb
trằn trọc suốt đêm, nghĩ ngợi về người đàn ông ấy: “Tôi cứ phân vân mãi, không
biết anh ấy trông như thế nào trong bộ đồng phục hải quân – một cái mũ trắng,
một miếng yếm phía sau lưng, và quần ống loe”. Tôi tự hỏi nhiều lần là tôi đã
từng gặp anh ta chưa, và thậm chí hình như tôi chưa từng nói với anh ta “Chào
buổi sáng, khoẻ không?’ hay bất cứ điều gì, bởi vì, bạn thấy đấy, tôi là phi
công chiến đấu còn anh ta chỉ là một thuỷ thủ quèn”.
Plumb nghĩ đến người thuỷ thủ ấy đã từng trải qua nhiều giờ tại chiếc bàn gỗ dài nơi hầm tàu, cẩn thận căng so dây dù và gấp những mảnh vải của từng cái dù. Mỗi lần như thế, anh ta nắm trong tay số phận của một người nào đó mà anh không hề biết đến.
Plumb nghĩ đến người thuỷ thủ ấy đã từng trải qua nhiều giờ tại chiếc bàn gỗ dài nơi hầm tàu, cẩn thận căng so dây dù và gấp những mảnh vải của từng cái dù. Mỗi lần như thế, anh ta nắm trong tay số phận của một người nào đó mà anh không hề biết đến.
Và bây
giờ – Plumb hỏi thính giả – vậy ai đang xếp dù cho các bạn đây? Mọi người đều
phải nhờ ai đó cung cấp những gì mình cần để hoàn thành công việc trong ngày.
Mỗi người cũng chỉ rõ ra là mình cần nhiều loại dù khi phi cơ của mình bị rơi –
Ai cũng cần loại dù Thể chất, dù Trí tuệ, dù Cảm dục và dù Tâm linh. Mọi người
đều cần đến tất cả những hỗ trợ này mới đạt đến chỗ an lành.
Đôi lúc,
trong những thử thách hàng ngày mà cuộc đời bày ra cho chúng ta, chúng ta bỏ
quên những gì là thực sự quan trọng. Chúng ta có thể bỏ qua lời nói xin chào,
xin vui lòng, hay xin cám ơn, xin chúc mừng ai đó về việc gì tuyệt vời xảy đến
cho họ, nói lời khen tặng, hay chỉ làm một điều gì đó tốt đẹp mà không có mong
cầu gì cả. Khi trải qua tuần này, tháng này, năm này, bạn hãy nhận ra người xếp
dù cho mình.
Tôi gởi
cho các bạn thông điệp này như là cách cám ơn sự tham gia của các bạn trong
việc xếp dù cho tôi. Và tôi hy vọng rằng các bạn sẽ gửi thông điệp này cho
những ai đã và đang xếp dù cho bạn.
Đôi lúc, chúng ta tự hỏi tại sao có những người bạn vẫn tiếp tục chuyển những câu chuyện vui cho chúng ta mà không cần thêm thắt một lời nào.
Đôi lúc, chúng ta tự hỏi tại sao có những người bạn vẫn tiếp tục chuyển những câu chuyện vui cho chúng ta mà không cần thêm thắt một lời nào.
Có lẽ
điều này được giải thích như thế này: Khi các bạn quá bận rộn, nhưng vẫn còn
muốn giữ mối quan hệ, đánh giá những gì bạn làm – bạn hãy chuyển những câu chuyện
vui. Và để bạn biết rằng bạn vẫn được nhớ đến, bạn vẫn còn quan trọng, bạn vẫn
còn được yêu mến, bạn vẫn còn được quan tâm, hãy đoán xem bạn nhận được gì nào?
Đó là một câu chuyện vui được chuyển đến cho bạn.
Vì vậy,
những bạn của tôi và những người thân của tôi, vào lần tới, khi bạn nhận được
một câu chuyện vui cười, đừng nghĩ rằng bạn chỉ được gửi đến một câu chuyện vui
cười, mà là bạn được nhớ tới vào ngày hôm nay, và bạn của bạn bên đầu kia của máy
vi tính, muốn gửi cho bạn một nụ cười, mà đúng ra là giúp bạn xếp chiếc dù của
bạn mà thôi.
Thứ Ba, 21 tháng 6, 2016
Thiết bị tìm kiếm máy bay, tàu thủy bị chìm trên biển
Có bạn hỏi làm sao lực lượng cứu nạn máy bay SU-30 và CASA nhìn thấy được đáy biển? Bài sưu tầm xin giới thiệu về thiết bị này:
Sidescan Sonar là phương pháp
thu hình các
chi tiết đáy từ sự phản hồi sóng
siêu âm.
Máy định vị Sonar là một thiết bị có độ phân giải đủ để thể hiện các hình ảnh cơ bản đáy nước ở hai bên
tuyến khảo sát. Sidescan Sonar không cung cấp độ cao tuyệt đối của đối tượng, mà là độ cao của vật thể tới đáy, từ đó độ cao của vật thể có thể ước tính.
Máy
định vị Sonar trông giống trái tên lửa hoặc con cá, gọi là Towfish (con cá). Khi
treo cách đáy biển 50 m sẽ có thể nhìn thấy các vật trong vòng chừng 600
m2. Tuy vậy, với Sonar, một xác người trông không khác gì một gò cát trên màn
hình. Ngay cả xác tàu đắm cũng khó nhận ra trên màn hình nếu người điều khiển Sonar
không được huấn luyện. Khi phát hiện một vật bất thường ở đáy biển, người ta hạ
Sonar xuống vài mét để có hình ảnh rõ hơn.
Sidescan Sonar
gồm thiết bị ghi, một cảm biến chìm trong nước, nối với nhau bằng cáp tín hiệu.
Sidescan Sonar là thiết bị ghi, nạp tín hiệu cho Towfish – phần thiết bị kéo
ngầm dưới nước. Lệnh từ thiết bị ghi truyền đến đầu phát (Transducer).
Đầu phát phát
xung siêu âm sẽ phát sóng (xung) xuyên trong nước, thẳng xuống đáy biển. Sau
khoảng thời gian cực ngắn, sóng siêu âm phản xạ lại từ đáy nước dội trở về
máy thu, được khuếch đại và truyền về thiết bị ghi. Thiết bị ghi xử lý tín
hiệu, số hóa và tính toán vị trí tương ứng trong bản ghi (từng pixel một), rồi
truyền số liệu này vào thiết bị ghi lưu. Số liệu thu được cho phép tính toán số
liệu hiệu chỉnh độ xiên để tạo ra hình ảnh phẳng, và có thể ghép thành một vùng
rộng của đáy được khảo sát.
Chiều cao và tốc độ kéo thiết bị: Chất lượng của số liệu là một hàm số của
chiều cao Towfish so với đáy hoặc đối tượng dưới đáy. Với cấu hình tiêu chuẩn,
việc khảo sát được tiến hành với Towfish ở cao độ so với đáy từ 8-20% phạm vi
đo. Nếu kéo Towfish cao hơn thì vùng khuất sẽ giảm và việc nhận biết địa vật
cũng giảm. Nếu kéo Towfish thấp hơn sẽ giảm hiệu quả của tín hiệu ở vùng biên.
Tốc độ kéo sẽ điều chỉnh sao cho mỗi địa vật được sóng siêu âm phản xạ 3 lần.
Hình ảnh về đối tượng được khảo sát: Độ
chính xác (khả năng nhận biết kích thước địa vật đáy) phụ thuộc và nhiều yếu tố:
kích thước và hình dạng của địa vật, dạng vật liệu và độ phản xạ, tạp âm, nhiễu,
và mức độ ổn định của Towfish. Một vùng khuất phía trước với tín hiệu phản xạ
mạnh cho biết có chỗ lõm lớn. Một vùng khuất ở phía sau với tín hiệu phản xạ
mạnh cho biết có sự nhô lên đột ngột của đáy.
Tính toán chiều cao của địa vật: Chiều
cao của địa vật có thể ước tính từ bóng che của nó. Độ phản xạ của sóng siêu âm
là một hàm của kích thước địa vật, hình dạng, hướng so với Towfish, và kết cấu
của nó. Thép và đá phản xạ tốt nhất. Sợi thủy tinh, gỗ, chất dẻo, cao su phản
xạ yếu.
Xác định vị trí của địa vật: Để
xác lập vị trí một cách chính xác, trước hết phải có vị trí chính xác của tàu
khảo sát, rồi nạp vị trí này cho Towfish. Vị trí đầu phát (Transducer) là điểm
gốc của hệ tọa độ được sử dụng trên tàu. Hướng về trước và ra sau là hướng
chính, khoảng cách vuông góc với hướng chính từ Towfish tới mạn tàu gọi là
offset. Thông thường, hướng chính là dương khi ở phía sau, và offset là dương
khi ở bên phải mạn tàu. Vị trí của Transducer được tính tại anten của GPS (phương
pháp hình học). Khi vị trí của Towfish được xác định thì ta sẽ tính được vị trí
của địa vật. Đại lượng offset (trong bộ ghi của Sonar) sẽ có giá trị dương đối
với mạn phải và âm đối với mạn trái. Khi biết giá trị offset của Towfish so với
tàu khảo sát thì sẽ tính được vị trí của địa vật.
Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016
Thế giới có bao nhiêu Hiệp hội lặn
(Bài của anh AMk3)
Lặn
thể thao, hay còn được gọi là lặn chơi, lặn giải trí (recreational diving)
không chịu quản lý và cấp chứng nhận bởi một cơ quan quản lý Hành chính Nhà
nước, mà thường là tự quản lý, tự điều chỉnh. Tuy nhiên, cũng có một số tổ chức
lớn thực hiện chức năng đào tạo và chứng nhận cho các divers (thợ lặn) và instructor
(huấn luyện viên). Từ đây, rất nhiều các cuộc mua bán, dịch vụ liên quan đến
lặn và thuê mướn thiết bị lặn đòi hỏi phải có sự bảo đảm bằng các bằng cấp,
chứng chỉ được cấp bởi các tổ chức này, trước khi có thể thực hiện một dịch vụ
hoặc sản phẩm lặn nhất định.
Trong số 49 hiệp hội lặn có uy tín trên trường quốc tế, thì những tổ chức quốc tế được cấp chứng chỉ lặn lớn nhất – hiện đang được phần lớn các hãng sản xuất trang bị lặn và các siêu thị đồ lặn công nhận – bao gồm:
• ACUC: American Canadian Underwater Certifications (trước kia là Association of Canadian Underwater Councils) –Xuất xứ
• BSAC: British Sub Aqua Club – Trụ sở ở Anh quốc, thành lập 1953 và là câu lạc bộ lặn lớn nhất thế giới hiện nay.
• CEDIP: European Committee of Professional Diving Instructors – Trụ sở ở châu Âu từ 1992 (see Cedip on French Wiki pages).
28/9/1958, các đại biểu Cộng hòa Liên bang Đức (vai trò chính), Bỉ, Brazil, Pháp, Hy Lạp, Ý, Monaco, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ và Nam Tư đã gặp nhau tại Brussels vào dịp Đại hội của Liên đoàn quốc tế độc lập thu thập tất cả các môn dưới nước. Với mục tiêu này, một cuộc họp được tổ chức tại Monaco vào ngày 09 Tháng 1, và tháng 10, 11 năm 1959 quyết định thành lập “Liên đoàn thế giới dưới nước” CMAS.
•
NAUI: National Association of Underwater
Instructors – Trụ sở tại Mỹ (đối thủ cạnh tranh của PADI).
• PDIC: Professional Diving Instructors Corporation – Trụ sở tại Mỹ .
• PADI: Professional Association of Diving Instructors –Trụ sở tại Mỹ, tổ chức quốc tế về đào tạo và cấp chứng chỉ lặn lớn nhất thế giới.
• SSAC or ScotSAC: Scottish Sub Aqua Club, Cơ quan quốc gia thể thao lặn tại
• International Training SDI, TDI & ERDi – Trụ sở tại Mỹ, TDI là cơ quan lặn kỹ thuật lớn nhất thế giới, SDI là nhóm lặn thể thao dựa trên các phương pháp mới và đào tạo trực tuyến, và ERDi là thành phần an toàn công cộng.
• SSI: Scuba Schools International – Có trụ sở tại Mỹ với 35 trung tâm khu vực văn phòng vùng trên toàn thế giới.
Trong số các tổ chức nói trên, nổi tiếng và có ảnh hưởng rộng nhất trong giới lặn recreational là PADI. Các trung tâm lặn, đào tạo và hệ thống cửa hàng trang thiết bị lặn ở Việt nam thường đều theo chuẩn và được chứng nhận bởi PADI. Ngoài ra, một số trung tâm lặn ở Việt nam còn đào tạo chương trình của SSI.
Thứ Ba, 19 tháng 4, 2016
Con tàu ma Mary Celeste (P2)
(Tiếp theo và hết)
Ở
thời điểm chuyển giao thế kỷ, một số tin rằng Mary Celeste đã bị con mực khổng
lồ hoặc Kraken (quái vật xúc tu chuyên đánh chìm tàu bè trên biển) tấn công.
Nhưng cứ cho là nó thì tại sao nó lại lấy đi các loại giấy tờ trên tàu, và tại
sao con tàu bị tấn công nhưng không có ai trên tàu chiến đấu – kiếm của họ vẫn
nằm trong vỏ. Khi thấy nhiều vết đỏ trên tàu, người ta kết luận đó là máu nhưng
thực chất chúng chỉ là gỉ sét.
Về
xuồng cứu sinh, có một sự đồng thuận giữa những người nghiên cứu, bao gồm cả
tòa án, cho rằng con tàu đã bị bỏ lại. Các dấu hiệu lộn xộn trên chiếc giường
của thuyền trưởng, quần áo của thủy thủ đoàn vương vãi cho thấy một cuộc tháo
chạy trong vội vã. Ngoài ra, vài sợi dây thừng cũng biến mất dẫn đến kết luận
thủy thủ đoàn đã rời hết xuống con xuồng, dùng dây thừng buộc nó vào sau tàu
Celeste.
Về
lý do di chuyển, có ba giả thuyết được ủng hộ nhiều nhất:
Thứ
nhất, có thể thực phẩm trên tàu bị nhiễm độc, gây ảo giác và khiến các thủy thủ
bỏ tàu. Người ta tìm thấy một chất trong bánh mì lúa mạch đen trên tàu có thể
tạo ảo giác. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn từ tàu Dei Gratia cũng đã sử dụng chính
đồ ăn trên tàu Celeste trong hơn một tuần mà không thấy hiện tượng gì bất
thường. Vì vậy, giả thuyết thứ nhất có thể loại bỏ.
Thứ
hai, khi các thùng rượu được mở ra, có 9 thùng trống rỗng, rõ ràng đã bị rò rỉ
trong chuyến đi. Thuyền trưởng cho rằng lượng hơi bốc ra bị giới hạn trong một
không gian nhỏ rất dễ phát nổ. Vì vậy, khoang tàu đã được mở toang để hơi thoát
đi và thủy thủ đoàn phải sơ tán lên xuồng cứu sinh, giữ một khoảng cách an
toàn.
Thứ
ba, giả thuyết của Tiến sĩ James H. Kimble: tàu Celeste đã gặp phải cơn lốc
xoáy trên biển, thường xuất hiện và tiêu tan một cách nhanh chóng. Nó không gây
thiệt hại gì đáng kể và là lời giải thích hợp lý cho lượng nước trong tàu lúc
được tìm thấy. Nhưng Briggs thì không nghĩ thế. Ông cho rằng con tàu sắp chìm.
Trong
trường hợp 2 và 3, các thuyền viên và gia đình Briggs sẽ nhanh chóng rời tàu.
Tuy nhiên, khu vực Bắc Đại tây dương vào mùa đông được coi là nơi khá nguy hiểm
cho nên hành động này có thể là nguyên nhân dẫn đến hậu quả đáng tiếc.
Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016
Con tàu ma Mary Celeste (P1)
(Theo tinmoi.vn,
trích đăng)
Ngày
4/11/1872, hai người bạn cũ, thuyền trưởng David Reed Morehouse (tàu hàng Dei
gratia, Anh) và thuyền trưởng Benjamin Briggs (tàu Mary Celeste của Mỹ) cùng ăn
tối ở New York .
Họ dừng chân ở New York
trước khi Morehouse ra khơi vào ngày 15/11, còn Briggs đi vào hôm sau, đều đi châu
Âu.
Ngày
5/12/1872, Morehouse kinh ngạc khi thấy tàu Mary Celeste của Briggs đang trôi
dạt ở khu vực giữa Bồ đào nha và quần đảo Azores .
Tiếp cận con tàu, họ nhận thấy tàu này tuy có bị nước tràn vào một chút nhưng
nhìn chung trong tình trạng rất tốt. Hàng hóa gồm 1.701 thùng rượu, lương thực
thực phẩm và nước ngọt đủ cho 6 tháng vẫn còn, không bị xáo trộn, chỉ duy nhất
một thùng rượu bị hư hỏng, vật dụng cá nhân của cả đoàn đều ở nguyên vị trí,
một chiếc bơm đang hoạt động với 2 cánh buồm được giương lên. Không hề có bất
kỳ dấu hiệu nào của con người. Hầu hết giấy tờ và thiết bị định vị trên tàu đã
biến mất, tuy nhiên, cuốn nhật ký hàng hải thì vẫn còn, trong đó ngày cuối cùng
được đặt bút là 25/11/1872, khi tàu này gần tới đảo St Mary, cách nơi người ta
tìm thấy nó khoảng 700 dặm. Điều kỳ lạ là tất cả đều mất tích không dấu vết,
mặc dù thời tiết lúc đó tốt và thuỷ thủ đoàn là những người có kinh nghiệm.
Frederick
Solly Flood, luật sư tòa án Hải quân Anh, đưa ra giả thuyết: toàn bộ thủy thủ
đột nhập vào khoang hàng hóa, uống rượu và giết chết thuyền trưởng Briggs, vợ
và con gái ông, cùng phó thuyền trưởng Richardson .
Nhưng sau đó, chính Flood đã tự loại bỏ giả thuyết này và chuyển sang quan điểm
rằng do rượu đã bị biến chất và nhiều khả năng là nguyên nhân dẫn đến cái chết
cho ai chẳng may uống phải.
Rồi ông
lại đưa ra giả thuyết khác: Briggs và Morehouse, đã âm mưu lừa gạt thủy thủ tàu
Mary Celeste. Theo kế hoạch, Briggs giết thủy thủ đoàn của mình, Morehouse sau
đó sẽ yêu cầu bồi thường cho việc cứu hộ tàu Celeste và chia tiền với Briggs.
Tuy nhiên, Briggs và Morehouse được biết đến là những người đáng kính, có lý
lịch tốt, không thể là kẻ giết người.
Mặc
dù vậy, Flood vẫn không từ bỏ suy nghĩ của mình. Nếu Briggs không làm điều đó
thì nhất định là Morehouse. Flood tố cáo các thủy thủ của Dei Gratia đã tấn
công tàu Mary Celeste vì lợi ích có thể nhận được với tư cách là người cứu hộ.
Sau nhiều tháng đưa ra lời vu khống chống lại Morehouse, tòa án Admiralty cuối
cùng đã minh oan và thanh toán mọi chi phí cho đoàn của Morehouse.
Thời
điểm đó, thế giới rất quan tâm đến những cáo buộc của Flood, thậm chí trong một
bài viết trên tờ New York Times, Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ William Richard cũng
đưa ra nhận định của riêng mình với vụ án này và đồng ý với giả thuyết của
Flood khi cho rằng đây là một cuộc nổi loạn.
Tháng
1/1884, tạp chí Cornhill Magazine đăng truyện ngắn với tiêu đề “J.Habakuk Jephson's Statement”, tác giả là Arthur Conan Doyle (người
sau này viết tiểu thuyết trinh thám Sherlock Holmes). Truyện xây dựng từ sự cố
tàu Mary Celeste, trong đó, tác giả nói đã tìm thấy những giấy tờ của Abel
Fosdyk, một hành khách trên tàu. Theo Fosdyk, vị thuyền trưởng đã tranh luận
với 2 thủy thủ về tốc độ bơi. Và để chứng tỏ mình đúng, cả 3 cùng nhảy xuống
nước bơi mà không biết sắp làm mồi cho cá mập. Những người còn lại chạy đến theo
dõi. Bất ngờ phần mũi tàu nơi họ đứng bị gãy, tất cả cùng chịu chung số phận
với vị thuyền trưởng. Fosdyk là người duy nhất sống sót vì đã bám được một mảnh
ván và trôi dạt vào bờ biển ở châu Phi. Đây chỉ là giả thuyết không có cơ sở
khi nhân chứng Fosdyk đã chết và chẳng ai có thể kiểm chứng được.
Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015
Một chút về lịch sử thi bơi quốc tế
Năm 36 trước Công nguyên,
thi đấu môn bơi đã được tổ chức tại Nhật – tổ chức sớm nhất trên thế
giới.
Năm 1869, Luân Đôn thành lập “Hiệp hội Câu lạc bộ bơi lội đô thị lớn” – một tổ chức tương tự như Liên đoàn, quy tắc thi đấu môn bơi ra đời.
Năm 1896, tại “Thế vận hội hiện đại” lần thứ nhất tổ chức tại A-ten, bơi lội trở thành môn chính thức với ba nội dung thi đấu.
Hiệp hội bơi lội thế giới thành lập năm 1837.
Hồi năm 1896, khi bơi lội được đưa vào thi đấu ở Thế vận hội, môn bơi không phân chia kiểu bơi, tức “bơi tự do” theo đúng nghĩa đen, và chỉ có ba nội dung 100 mét, 500 mét, 1.200 mét.
Thế vận hội lần thứ 2 năm 1900 có thêm kiểu bơi ngửa.
Thế vận hội lần thứ 3 năm 1904 có thêm kiểu bơi ếch.
Tới năm 1908 mới có quy định về các môn thi đấu trong bể bơi.
Thế vận hội lần thứ 5 năm 1912 mới có thi đấu môn bơi của nữ.
Thế vận hội lần thứ 16 năm 1956 thêm kiểu bơi bướm, và từ đó có hình thức cố định là bốn kiểu bơi. Thi đấu môn bơi tại Thế vận hội sau đó có 6 môn, là bơi tự do, bơi ếch, bơi bướm, bơi ngửa, bơi phối hợp và bơi tiếp sức (gồm bơi tự do và bơi phối hợp) với 32 nội dung.
Hình minh họa.
Năm 1869, Luân Đôn thành lập “Hiệp hội Câu lạc bộ bơi lội đô thị lớn” – một tổ chức tương tự như Liên đoàn, quy tắc thi đấu môn bơi ra đời.
Năm 1896, tại “Thế vận hội hiện đại” lần thứ nhất tổ chức tại A-ten, bơi lội trở thành môn chính thức với ba nội dung thi đấu.
Hiệp hội bơi lội thế giới thành lập năm 1837.
Hồi năm 1896, khi bơi lội được đưa vào thi đấu ở Thế vận hội, môn bơi không phân chia kiểu bơi, tức “bơi tự do” theo đúng nghĩa đen, và chỉ có ba nội dung 100 mét, 500 mét, 1.200 mét.
Thế vận hội lần thứ 2 năm 1900 có thêm kiểu bơi ngửa.
Thế vận hội lần thứ 3 năm 1904 có thêm kiểu bơi ếch.
Tới năm 1908 mới có quy định về các môn thi đấu trong bể bơi.
Thế vận hội lần thứ 5 năm 1912 mới có thi đấu môn bơi của nữ.
Thế vận hội lần thứ 16 năm 1956 thêm kiểu bơi bướm, và từ đó có hình thức cố định là bốn kiểu bơi. Thi đấu môn bơi tại Thế vận hội sau đó có 6 môn, là bơi tự do, bơi ếch, bơi bướm, bơi ngửa, bơi phối hợp và bơi tiếp sức (gồm bơi tự do và bơi phối hợp) với 32 nội dung.
Hình minh họa.
Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015
Vi cá mập dưới góc nhìn của thợ lặn giải trí
Hay: Trị ung thư bằng vi cá mập - huyền thoại và sự thật.
Người ta nói vi cá mập có đặc
tính chống ung thư. Quan niệm này xuất phát từ nguồn tin là cá
mập không bao
giờ mắc bệnh ung thư. Song trên thực tế ung thư cũng tấn công cá mập.
Viện Ung thư quốc gia Mỹ vừa
nghiên cứu khả năng trị ung thư của vi cá mập bằng cách chiết xuất chất trong
vi rồi đưa nó vào cơ thể bệnh nhân ung thư phổi. “Chúng tôi muốn tìm hiểu xem
chất chiết xuất từ vi cá mập có thể kéo dài thời gian sống của bệnh nhân ung
thư hay không. Thật không may, chúng tôi thấy sự hiện diện của chất đó không
làm tăng thời gian sống của họ”, Charles Lu, chuyên gia trung tâm Ung thư
M.D.Anderson (Mỹ), thông báo.
Nói nôm na, cơ thể mọi loài động vật (bao gồm cả loài người) lúc nào cũng có rất nhiều tế bào già cỗi bị loại bỏ và rất nhiều tế bào ra đời để thay thế chúng. Để tế bào mới giống hệt tế bào cũ, cơ thể sẽ phát ra tín hiệu (mã) di truyền (ARN) làm "chuẩn" cho quá trình "sản xuất" tế bào mới. Rất tiếc, mã bị sai lệch là chuyện thường xuyên, dẫn tới việc ra đời các "sản phẩm" sai lệch. Nếu tế bào sai lệch ít thì cơ thể đó không sao (và cơ thể đó sẽ sửa sai), còn nếu tế bào sai lệch tăng quá một giới hạn nào đó thì Ngành y gọi hiện tượng đó là "ung thư".
Không chỉ loài người, loài cá mập cũng không ngoại lệ, và do vậy, giết chúng để trị ung thư là một sai lầm. Hãy để chúng được yên. Hãy để cho chúng tôi (những thợ lặn giải trí) được chiên ngưỡng chúng.

Bạn sẽ hỏi: Những ai không bị sai lệch ARN? Trả lời: Làm gì có ai.
Bạn sẽ hỏi: Vi cá mập không có tác dụng thì gặp ung thư sẽ tính sao đây? Trả lời: Là thợ lặn, chúng tôi chỉ có thể trả lời là hãy đi lặn gỉải trí cùng chúng tôi. Chúng tôi nghĩ rằng, đó là một trong các biện pháp điều trị hiệu quả nhất.
H: Cho cá mập ăn - huấn luyện theo lý thuyết phản xạ có điều kiện.

Bạn sẽ hỏi: Những ai không bị sai lệch ARN? Trả lời: Làm gì có ai.
Bạn sẽ hỏi: Vi cá mập không có tác dụng thì gặp ung thư sẽ tính sao đây? Trả lời: Là thợ lặn, chúng tôi chỉ có thể trả lời là hãy đi lặn gỉải trí cùng chúng tôi. Chúng tôi nghĩ rằng, đó là một trong các biện pháp điều trị hiệu quả nhất.
H: Cho cá mập ăn - huấn luyện theo lý thuyết phản xạ có điều kiện.
Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015
Vầng sáng dưới đáy biển
(Theo khoahoc.com.vn,
trích đăng)
Vào thập niên 1980, Hạm đội Nga
(VMF) đã ban hành một chỉ thị mật: "Các hướng dẫn theo dõi những hiện tượng thể
lý bất thường và tác động của chúng lên môi trường, cơ thể sống và các phương
tiện kỹ thuật" ... "Những hiện tượng thể lý bất thường hay những
vật thể (không giống những hiện tượng hay vật thể mà chúng ta đã biết) là những
hiện tượng được nhiều người quan sát bình thường, các chuyên gia, các nhà thiên
văn học, các phi hành đoàn, thủy thủ đoàn nhìn thấy ở nước ta và nước ngoài.
Trong một số trường hợp, những hiện tượng này chưa thể giải thích. Vấn đề này
cần được nghiên cứu nghiêm túc. Nếu phát hiện những hiện tượng bất thường này,
các thuyền trưởng trong vòng năm ngày (trong trường hợp xuất hiện UFO dẫn tới
ảnh hưởng kỹ thuật hay con người) phải ngay lập tức thông báo về Bộ chỉ huy Hạm
đội".
Các thợ lặn từng phát hiện
luồng ánh sáng lạ từ lòng biển. Đại tá hải quân Sergei Laboda, Nga, cho biết: "Vào năm 1983, tại
vịnh Vizcaya, người Pháp chuẩn bị thử nghiệm một tàu ngầm nguyên tử chiến lược
mới, còn con thuyền trinh sát của chúng tôi được cử đi thu thập thông tin, đo
đạc các thông số kiểm tra. Phiên trực của tôi bắt đầu từ sáng sớm. Nhưng
không lâu trước
bình minh, cách chúng tôi 4 dặm có một đốm sáng trên mặt nước. Có cái gì đó lấp lánh bay từ dưới mặt
nước, giống như một con cào cào khổng lồ, nhưng rồi vừa tới mặt nước lại lặn
xuống, không gây tiếng sóng. Người Pháp từ một chiếc tàu canh chừng chúng tôi
cũng nhận thấy hiện tượng đó. Từ kinh nghiệm đi biển của mình, tôi thấy đây là hiện tượng không
bình thường và đã báo cáo về Bộ chỉ huy. Người Pháp thì bỏ luôn
việc thử nghiệm và rời khỏi vùng này".
Giả thiết 1: Do các vi sinh vật chiếu sáng.
Các
nhà khoa học cho rằng các thủy thủ không bị ảo giác. Có thể đó là do các sinh
vật, như nhà đại dương học người Đức Karl Kalle nhận xét, sau khi phân tích hơn
2.000 trường hợp chiếu sáng trong lòng biển. Để biển sáng lên, cần có sự di
chuyển của các làn nước dưới đáy biển, thường được tạo ra bởi động đất hay núi
lửa phún xuất trong lòng biển. Trong trường hợp đó, các cú đập của sóng sẽ
chuyển thành cột nước dày trồi lên bề mặt, cùng lúc nó đẩy lên mặt nước các vi
sinh vật chiếu sáng vốn đầy rẫy trong lòng đại dương.
Tuy nhiên, A.Golubev,
trợ lý thuyền trưởng tàu đánh cá Kamchatka , tỏ
ra nghi ngờ giả thiết này. Golubev đã hai lần quan sát những vòng tròn chiếu
sáng trong lòng biển Okhotsk . Ông cho biết vào
năm 1998, lúc đó ông là trợ lý thuyền trưởng tàu "Thuyền trưởng Kantsiber": Đó là một đêm không trăng, ông vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện một vùng
sáng mờ đục trải rộng trên biển qua cửa kính. Ông nghĩ "chắc có thuyền nào gần đó" nhưng
màn hình máy định vị trống rỗng. Ông bước ra mũi tàu và thấy con tàu nằm ngay
tâm điểm của vùng sáng đường kính gần hai dặm. Giống như dưới đáy biển ai đó
bật một ngọn đèn pha cực mạnh. Ánh sáng này không hề bị khúc xạ, cả một chùm
tia thẳng!
Năm phút sau,
khi ông còn đang cân nhắc thì vùng sáng đó di chuyển cùng tàu với tốc độ 10 hải
lý/giờ. Không có các vi sinh vật chiếu sáng nào có thể bơi với tốc độ nhanh như
thế. Và khi ông bước ra ngoài lần nữa, bên phải đường đi của tàu xuất hiện một
vùng sáng thứ hai và tàu song hành lướt trên sóng biển Okhotsk
thêm 15 phút nữa. Sau đó đốm sáng thứ hai tiến về phía trước, cắt ngang đường
tiến của tàu rồi bất ngờ dừng lại, biến mất. Cũng ở vùng biển đó, trên tàu
"Tesei", ông Golubev
đã gặp lại đốm sáng trên lần thứ hai tháng 4/2001, khi tàu đang đi về phía Trung quốc, cũng trong một ca trực đêm và con tàu cũng rơi vào giữa quầng
sáng đó.
Giả
thiết 2: Chỉ là ngư lôi huấn luyện.
Theo đại tá hải quân Vadim
Kulichenko, trong việc huấn luyện trên Hạm đội người ta dùng ngư lôi huấn luyện (sử dụng nhiều lần). "Các ngư lôi này
được phóng khỏi tàu hay tàu ngầm và chúng sẽ đi xa khoảng 10-15km rồi dừng lại.
Tập xong, ca nô chuyên dụng sẽ lượm nó về để sử dụng cho lần sau. Để dễ tìm
chúng trên biển, người ta gắn cho chúng đèn pha cực mạnh, phát ánh sáng thẳng
đứng. Bộ ăcqui dự trữ đủ dùng cho hai ngày. Cũng có lúc các ngư lôi này bị lạc,
và có thể, dòng chảy đã đưa nó đi xa ra khỏi ranh giới của "bãi thử",
lạc vào các tuyến đường thương mại”.
Tuy nhiên, những hiện tượng bất
thường trong lòng đại dương đã được ghi nhận từ trước khi thế giới biết tới
UFO. Năm 1919, nhà nghiên cứu người Anh Charles Fort đã kể trong quyển sách The
book of the damned (Những điều đáng nguyền rủa) chuyện một con tàu của Công ty
Anh - Ấn Patna đụng phải "bánh xe quỷ" năm 1880. Thuyền trưởng Averna kể lại: Trong mỗi bánh xe có 16 căm, bánh xe có đường kính
từ 500 - 600 yard, các căm xe này được bố trí rất đồng đều. Trong 20 phút, các
bánh xe này chạy cùng với con tàu như song hành, sau đó bất ngờ biến mất. Khi
đó, thế giới chưa có ngư lôi huấn luyện.
Năm 1976, tàu nghiên cứu khoa học
"Vladimir Vorobyev" phát hiện trên biển Ả rập một
đốm sáng trắng, quay ngược chiều kim đồng hồ. Máy dò tiếng vọng trên tàu báo có
vật gì đó lớn ở độ sâu 20 mét. Xuất hiện quầng sáng vào 23g30, và nửa đêm nó
biến mất. Vì đây là con tàu nghiên cứu, các chuyên gia hiểu vấn đề nên họ đã đo
nhiệt độ nước: 26 độ C - một nhiệt độ được cho là trung bình. Họ cũng lấy mẫu
nước biển để thử và không tìm thấy một hóa chất hay vật thể vi sinh chiếu sáng
nào.
Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015
Tàu phá băng - loại tàu thủy chuyên chạy trên vùng biển băng dày đặc
Các loại tàu thủy thông dụng khi đi vào vùng biển băng giá sẽ gặp nguy cơ bị kẹt trong băng, thậm chí bị băng bóp vỡ như ta đập quả trứng. Ví dụ trường hợp của tàu Titanic cách đây hơn 100 năm, mới chỉ "quẹt sơ" tảng băng trôi mà đã bị gãy làm tư (nguồn tin từ tàu ngầm khảo sát), chìm tuốt luốt. So với các loại tàu thủy thông dụng, tàu phá băng, về nguyên lý, có cấu trúc khác biệt, như mũi tàu vát góc 20 – 35 độ so với mặt nước, giúp nó trườn lên mặt băng một cách dễ dàng. Hai mặt bên của đầu tàu, đuôi tàu và bụng tàu có những khoang chứa nước rất lớn - lớn hơn nhiều so với "két nước dằn" của tàu thủy thường. Thân tàu to rộng nhưng phần trước thon lại phù hợp với việc xẻ đường trong lớp băng. Vỏ tàu có kết cấu vững chắc hơn tàu thủy thông dụng.
Để dễ dàng tiến, lui và cơ động trong băng, thân tàu thường ngắn hơn tàu thường: Tỷ lệ giữa
chiều dài và chiều rộng của các tàu vào khoảng 7 – 9/1, còn tàu phá băng là
4/1. Ngoài ra tàu phá băng thường có mớm nước sâu hơn để “tăng trọng” cho mỗi
khi phá băng – phần thân tàu khi được nhô lên mặt nước sẽ “tăng trọng” (thoát
khỏi lực nâng Ác si mét) so với khi nó ở trong nước.
Khi đụng tầng băng, tàu
từ từ tiến để mũi tàu trườn lên mặt băng, sau đó đầu tàu sẽ đè lên mặt
băng – sức nặng của nó sẽ đè vỡ băng (chứ không phải nó húc đầu vào tảng băng để xẻ đôi nó ra - như ta xẻ đôi trái dưa hấu). Cứ thế, tàu phá băng tiến lên trong vùng
biển băng giá.
Gặp lớp băng vững chắc hơn, người ta bơm nước vào
khoang chứa nước ở đuôi tàu. Khi
này do trọng tâm của tàu chuyển
về phía sau, nên đầu tàu sẽ ngóc lên cao. Sau đó cho tàu tiến lên một chút để mũi tàu trườn lên tầng băng, tiếp đó tháo nước ở khoang chứa nước ở đuôi
tàu ra, đồng thời bơm đầy nước
vào khoang chứa ở đầu tàu. Như vậy đầu tàu được cộng thêm trọng lượng
của hàng trăm tấn nước.
Khi tàu phá băng bị mắc kẹt trong vùng băng quá kiên
cố, người ta cho tàu lắc qua lắc lại để
giải thoát. Bơm nước vào khoang chứa nước ở một bên sườn, tàu sẽ nghiêng
về bên đó. Rồi xả nước ở sườn này và bơm nước vào khoang ở sườn bên kia, tàu sẽ
nghiêng về bên kia. Cứ bơm và xả nước – nhanh chóng và liên tục – làm tàu lắc qua
lắc lại nhiều lần và làm cho khe hở của lớp băng được nới rộng ra, và tàu sẽ thoát
ra khỏi lớp băng.
H1-2: Tàu phá băng (H1) và tàu ... không phá băng (H2), với lời bình vui: Không phải cứ tướng tá bặm trợn mà "ngon", ngược lại, không nhất thiết có dáng hiền lành, chất phác mà là kẻ "hèn kém".H3: Do vậy, nếu bạn đi trên tàu phá băng thì khỏi sợ tai nạn như Titanic, nhưng cũng chẳng sung sướng gì, vì khi đang phá băng thì nó cứ nhảy cà tưng y như chiếc xe hơi vượt chướng ngại vật.
Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2015
Jeju - đảo thợ lặn
(Bài
của một du khách, trích đăng)
Jeju
rộng 1.845 km2, là đảo lớn nhất của Hàn Quốc, hình thành từ những đợt phun trào
núi lửa, vì thế cảnh quan Jeju là đá đen. Đâu đâu cũng thấy đá đen nên những
vườn quýt trĩu quả vàng ươm có nền để nổi bật. Chính các mỏm đá có hình thù đặc
biệt và miệng núi lửa của đảo là nơi thu hút khách du lịch.
Nền địa chất ở đây đã tạo cho Jeju một sự “bí hiểm” với “con đường ma quái” được phát hiện cách đây không lâu bởi một người tài xế taxi. Ma quái vì là một con dốc nhưng khi đi ngược dốc, dù xe tải, xe khách lớn hay taxi, xe đạp cũng tự leo lên được, không cần sức người, sức máy. Cũng có người giải thích đây chỉ là hiện tượng mang tính ảo giác. Nhưng dù là lý do gì thì người dân ở đây cũng thu bộn tiền từ việc bán vé đậu xe và bán các món ăn nhẹ dân dã như bắp nướng, bánh bao, khô mực… bởi bất cứ đoàn khách du lịch nào đến Jeju cũng ghé đến đây.
Nền địa chất ở đây đã tạo cho Jeju một sự “bí hiểm” với “con đường ma quái” được phát hiện cách đây không lâu bởi một người tài xế taxi. Ma quái vì là một con dốc nhưng khi đi ngược dốc, dù xe tải, xe khách lớn hay taxi, xe đạp cũng tự leo lên được, không cần sức người, sức máy. Cũng có người giải thích đây chỉ là hiện tượng mang tính ảo giác. Nhưng dù là lý do gì thì người dân ở đây cũng thu bộn tiền từ việc bán vé đậu xe và bán các món ăn nhẹ dân dã như bắp nướng, bánh bao, khô mực… bởi bất cứ đoàn khách du lịch nào đến Jeju cũng ghé đến đây.
Seongeup
là một bảo tàng sống về nhà cửa và cuộc sống của người dân Jeju thời kỳ trước,
ở đây vẫn còn nguyên xi những nếp nhà lợp rơm, vại nước mưa được hứng từ trên
cây bằng những bện rơm vàng óng, chiếc cầu tiêu đặc thù với con heo đen luẩn
quẩn bên chiếc chuồng rộng phía dưới bảo vệ con người khỏi bị rắn tấn công,
những lu nước địu trên lưng và cả chiếc nôi của trẻ con, được thiết kế rất tiện
dụng cho mẹ chúng có thể vừa ru chúng ngủ vừa làm được những công việc khác…
Tiếp theo là đỉnh Seongsan nằm ở phía Đông Bắc cuối đảo, vốn là miệng núi lửa
đã phun trào lần cuối cùng cách đây 100.000 năm. Đường lên đỉnh núi rất đẹp với
những thảm cỏ trải rộng ngay sát bờ biển. Nhưng vốn không thích độ cao lắm nên
tôi chọn con đường rẽ xuống biển, tôi muốn thăm những người phụ nữ lặn biển -
các nàng tiên cá của Jeju... Có lẽ họ là những người phụ nữ lặn biển cuối cùng
của Jeju, bởi phụ nữ trẻ ngày nay không ai mưu sinh bằng cái nghề nguy hiểm này
nữa. Chẳng biết là nên buồn hay nên vui
H: Nữ thợ lặn (hình chỉ có tính minh họa).
H: Nữ thợ lặn (hình chỉ có tính minh họa).
Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015
Lặn giúp giảm căng thẳng và khởi động các động lực bảo vệ cơ thể
Các nhà khoa học St Petersburg,
Nga, qua nhiều năm nghiên cứu các động vật có vú biết lặn, đã đi tới kết luận rằng, ngụp lặn trong nước lạnh giúp
giảm bớt căng thẳng và khởi động các động lực bảo vệ cơ thể. Họ quan sát rái
cá, hải ly, chuột nước và hàng loạt động vật có vú biết bơi lặn khác. Giống với
con người, khi đắm mình trong nước lạnh, các động vật cũng chịu hàng loạt tác
động cực đoan. Nhờ giai đoạn tiến hóa dài, chúng đã tôi luyện cho bản thân cơ
chế bảo vệ hệ thống tim mạch.
Khi lặn vào nước, các
động vật chuyển sang chế độ tiêu thụ tiết kiệm oxy, nhịp tim đập chậm lại và
lưu lượng máu tuần hoàn cũng giảm. Cơ thể tái phân phối máu từ các chi đổ về
những cơ quan không thể thiếu oxy là tim và não. Quá trình ngược lại diễn ra
khi động vật bơi ngoi lên bề mặt nước: máu rút bớt khỏi não và tim, phân bổ đều
khắp các cơ quan của cơ thể.
Cơ chế điều tiết này
cũng có ở con người (nhưng đã bị con người lãng quên khi trở thành “động vật
trên cạn”), gọi là “phản xạ lặn”. Các bác sĩ ghi nhận trong quá trình ngụp lặn,
tần số nhịp tim sẽ giảm –có thể tới một nửa, hay nói cách khác tức là hiệu quả
hô hấp tăng, hay nói cách khác “đánh thức phản xạ lặn”. Ngoài ra, phản xạ lặn
kích hoạt cơ chế bảo vệ chống căng thẳng và hạn chế tiết ra quá nhiều Adrenaline
dẫn tới làm suy nhược cơ thể. Tất nhiên trước khi tập lặn, bạn nên tham khảo ý
kiến bác sĩ, đặc biệt là xác định chế độ và tần số lặn. (Tần số: số lần phải
tác động trong một khoảng thời gian xác định).
Với những người không
có điều kiện đi lặn thì, đơn giản hơn, có thể ngâm mặt trong nước lạnh nhằm
giúp giải phóng khỏi chuyện nhịp tim đập nhanh, xóa căng thẳng và nâng sức miễn
dịch. Phương pháp này hỗ trợ những người bệnh bị hạn chế tập luyện thể dục.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

