Danh sách các tab/trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn 4-KHÁC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 4-KHÁC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2019

Lời xin lỗi

Do có sự cố trong khâu quản trị mạng nên trang tin của chúng ta bị ngưng mất 3 tháng. May có một thành viên của trang tin này đã phát hiện và chỉnh lý. Xin lỗi các bạn lặn cùng các bạn đọc.

Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2017

Tuổi tác ảnh hưởng đến thể thao như thế nào (P3)

(tiếp theo và hết)

Đừng nên bỏ sót yếu tố cơ bắp.

Một số bằng chứng cho thấy đối với các môn thể thao đòi hỏi sức lực hay năng lượng cao, như cử tạ, thì các hạn chế liên quan đến độ tuổi có thể nằm ở các cơ xương, những cơ di chuyển xương và khớp của cơ thể.

Đối với các vận động viên cử tạ trên 40 tuổi (trình độ chuyên nghiệp), thành tích sẽ sụt giảm đột ngột so với các vận động viên sức bền trong các môn thể thao như chạy, bơi và đua xe đạp. Đây là điều dễ hiểu bởi cử tạ sử dụng các sợi cơ bắp loại 2 (gọi là nhóm co rút nhanh) để tạo ra sức lực. Nghiên cứu chỉ ra những tế bào này sẽ sụt giảm về số lượng và chức năng theo tuổi tác.

Không chỉ những tế bào này sẽ sụt giảm theo tuổi tác, mà hiện tượng này còn xuất hiện ở các tế bào hỗ trợ sự phục hồi và sinh trưởng của các cơ xương khi giảm thiểu việc tập luyện.
Những sự sụt giảm theo tuổi tác này không quá rõ rệt như trong nhóm cơ loại I, những sợi cơ có liên hệ chặt chẽ với các bài tập sức bền.
 (tiếp theo và hết)

Thời gian hồi phục có thể kéo dài lâu hơn.

Khi già đi, có nhiều vận động viên phàn nàn rằng khả năng phục hồi từ các bài tập nặng nhọc cũng sụt giảm theo.
Điều này có thể tác động đến cường độ và khối lượng tập luyện của tất cả các vận động viên. Nhưng trong nhiều môn thể thao đòi hỏi sự va chạm, như bóng bầu dục Mỹ, việc hồi phục từ các chấn thương và ảnh hưởng tích lũy của các cú va chạm nặng đã trở thành một nhân tố hạn chế khả năng tiếp tục thi đấu ở các cấp độ cao nhất.
Lấy ví dụ, mùa bóng năm ngoái chỉ có hai vận động viên ở Giải Bóng bầu dục Quốc gia Mỹ NFL là Sav Rocca từ đội Washington Redskins và Adam Vinatieri từ đội Indianapolis Colts hiện vẫn đang chơi dù đã bước sang ngưỡng tuổi 40.
Các chấn thương cũng tác động xấu đến những người chơi các môn thể thao không va chạm. Đối với các vận động viên chuyên nghiệp, việc gặp phải nhiều chấn thương trong quá trình tập luyện cũng dẫn tới sự sụt giảm cường độ và khối lượng tập luyện, dẫn tới thành tích kém hơn trong ngày thi đấu.

Tâp luyện tốt hơn có thể giúp duy trì phong độ đỉnh cao.

Tuy rốt cuộc tất cả các vận động viên sẽ suy giảm trong các cuộc đua thành tích do tuổi tác, nhưng với sự tập luyện và các bài tập phục hồi tốt hơn, trong những năm tới có lẽ chúng ta sẽ chứng kiến nhiều hơn các vận động viên ở tầm tuổi 40 vẫn có thể tranh tài ở cấp độ thể thao cao nhất. Bằng cách “tập luyện thông minh hơn, thay vì nặng hơn”, các vận động viên có thể giảm thiểu nguy cơ chấn thương, tối đa hóa thành quả từ việc tập luyện và giảm thiểu các ảnh hưởng của lão hóa.

Các vận động viên già cần nhiều thời gian hồi phục và thích ứng với việc tập luyện, nên các kế hoạch tập luyện cần phải thay đổi theo độ tuổi.
Lấy ví dụ, các bài tập cường độ cao, cách quãng chỉ tập trung vào chất lượng của việc luyện tập, thay vì khối lượng tập luyện đơn thuần, và có thể được các vận động viên già sử dụng hiệu quả để cải thiện sức bền.

Việc tập luyện nhiều môn thể thao đồng thời, như cử tạ và yoga, có thể giúp duy trì khối lượng và độ dẻo dai của cơ bắp, và giảm thiểu các chấn thương do vận động quá sức ở các vận động viên sức bền.

Việc nhấn mạnh vào các chiến lược “phục hồi tích cực” (một cuộc chạy hay bơi thư giãn vào những ngày nghỉ) và một thói quen ngủ nghỉ tốt hơn là điều quan trọng đối với các vận động viên ở mọi lứa tuổi, nhưng lại trở nên đặc biệt thiết yếu đối với các vận động viên già hơn.


Tuy nhiên, sự sụt giảm thành tích không chỉ đề cập đến sự thay đổi thể chất. Khi chúng ta già đi, động lực tập luyện nội tại cũng giảm dần. Ngay cả trong cộng đồng vận động viên, động lực tập luyện có thể thay đổi từ việc đặt ra các kỷ lục cá nhân sang việc duy trì sự sức khỏe và sự tích cực. Và đó là một động lực tuyệt vời cho tất cả vận động viên ở mọi lứa tuổi.

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2017

Tuổi tác ảnh hưởng đến thể thao như thế nào (P2)

(bài của anh Christopher Minson, Đại học Oregon, tiếp theo)

Tuổi tác làm biến đổi cách cơ thể chúng ta sử dụng oxy.

Một lý do chính khiến sức bền giảm sút theo tuổi tác là do cơ thể không thể sử dụng khí oxy một cách hiệu quả.
Khả năng sử dụng khí oxy tối ưu (VO2max) là một chỉ số đo lường sức bền theo độ tuổi. VO2max là một giá trị định lượng miêu tả lượng khí oxy cơ thể có thể sử dụng trên mỗi kilogram trọng lượng.
VO2max đo lường khả năng cơ thể đưa khí oxy đến phổi, khả năng oxy được lưu chuyển trong máu đến các cơ bắp đang hoạt động, và lượng oxy cơ bắp có thể sử dụng để kích hoạt sự co bóp.

Tập thể dục có thể làm tăng cường tất cả những phương diện này, và chỉ số VO2max càng cao bao nhiêu, sức bền của một người càng lớn bấy nhiêu. Tức là, họ có thể thực hiện nhiều công việc đòi hỏi sức bền hơn trên một trọng lượng cơ thể nhất định.

Trong nhóm người “dân thông thường”, chỉ số VO2max có xu hướng giảm khoảng 10% sau mỗi thập kỷ khi bước qua ngưỡng tuổi 30. Nhưng các vận động viên (vẫn tiếp tục thi đấu và tập luyện chăm chỉ) có thể giảm lượng sụt giảm xuống còn một nửa, xuống còn 5% mỗi thập kỷ, sau khi bước sang ngưỡng tuổi 30.

Nguyên nhân chỉ số VO2max sụt giảm theo thời gian là vì “nhịp tim tối đa” cũng giảm dần.
Nhịp tim tối đa là chỉ số nhịp tim cao nhất (nhịp/phút) của một người có thể đạt tới trong quá trình gia tăng cường độ các bài tập sức bền.
Chỉ số này được dự đoán một cách tương đối bằng công thức sau: “220 – tuổi = nhịp tim tối đa”.

Tuy nhịp tim tối đa thực sự của một người là một đại lượng dễ biến đổi, nhưng khi bạn già đi, nhịp tim tối đa của bạn sẽ giảm, bất kể bạn là một vận động viên cường tráng hay một người chỉ thích nằm dài trên ghế cả ngày.

Và điều này sẽ làm suy giảm cả hiệu suất của tim và sự vận chuyển khí oxy đến các cơ bắp, tức là khi chúng ta già đi thì chỉ số VO2max và thành tích sẽ thấp hơn trong các môn thể thao đòi hỏi sức bền.

Ngay cả nếu sự vận chuyển khí oxy đến các cơ bắp bị hạ thấp, thì khả năng các cơ bắp tận dụng hiệu quả lượng khí oxy tương thích với một khối lượng công việc nhất định sẽ vẫn được duy trì đến ngưỡng tuổi 60 và 70, mặc dù khối lượng cơ bắp sẽ có xu hướng sụt giảm khi chúng ta già đi, dẫn đến sự sụt giảm thành tích.

Đối với các môn thể thao sức bền mang tính cạnh tranh cao, các tay đua thuyền đã cho thấy lượng sụt giảm chỉ số VO2max ít nhất theo thời gian, nhưng sự khác biệt với các môn thể thao khác là không lớn. Có thể là vì chèo thuyền là một môn thể thao ít va chạm hơn so với đua xe đạp (có các cú ngã) và chạy thi (luôn phải chạy rầm rập).  (còn nữa)

Thứ Hai, 14 tháng 8, 2017

Tuổi tác ảnh hưởng đến thể thao như thế nào (P1)

(Bài của anh Christopher Minson, 40 tuổi, Đại học Oregon, trích dịch)

Tôi (tác giả) nhớ lại khoảng khắc một vài năm trước (thời điểm viết bài): lúc đó tôi đang xem TV thì chợt nhận ra rằng nếu tôi tham gia Tour de France, thì ở cái tuổi 42 tôi sẽ là người già nhất trong giải đấu. Tôi cảm thấy buồn khi biết rằng giấc mơ tham gia giải đua xe đạp lớn nhất hành tinh đã chấm dứt… nó sẽ không thể xảy ra.

Tôi chưa từng thi đấu, chứ chưa nói đến việc tập đua xe đạp một cách nghiêm túc trong một vài năm.
Ngay cả trong những năm tháng “hoàn hảo” nhất, tôi vẫn chưa đủ độ cho việc đua xe đạp. Chỉ là hiện nay tôi đã có một lý do … Tôi đã quá già, cách quá xa khỏi những năm tháng hoàn hảo của cuộc đời.

Vậy điều gì đã xảy ra? Liệu có tồn tại một nguyên nhân trên phương diện sinh lý giải thích cho hiện tượng những người bước sang giữa tầm tuổi 40 sẽ không còn có thể thi đấu tại mức độ chuyên nghiệp ở hầu hết các môn thể thao, hay đây là do một loạt các vấn đề ngăn trở, như thời gian dành cho việc tập luyện, động lực nội tại, việc quản lý thời gian biểu của con cái hay công tác cá nhân bận rộn?

“Tôi đã quá già” là một luận điệu phổ biến để bao biện cho tình trạng thành tích giảm sút trong lĩnh vực thể thao khi chúng ta già đi. Nhưng dưới đây mới thật sự là những gì đang xảy ra trong cơ thể qua nhiều năm, những nhân tố khiến các thành tích đẳng cấp thế giới trở nên dần dần xa vời. Và, điều thú vị là, có một vài yếu tố sinh lý có thể tăng cường sức mạnh thể lực nhưng dường như không bị ảnh hưởng bởi tình trạng lão hóa.

Độ tuổi “điểm ngọt”.

Trong hầu hết các môn thể thao, có một độ tuổi gọi là “điểm ngọt”, mà ở đó sự kết hợp giữa các khả năng vật lý, kỹ thuật, và chiến lược hội tụ lại cùng một chỗ. 

Trong hầu hết các môn thể thao, độ tuổi điểm ngọt rơi vào khoảng tầm 25 đến đầu 30 tuổi. Tuy rằng đã có nhiều trường hợp các vận động viên Olympic tranh tài, và đôi lúc giành huy chương, bên ngoài ngưỡng tuổi 50, nhưng đại đa số các trường hợp này đến từ các môn thể thao đòi hỏi kỹ năng đặc biệt và không cần nhiều sức mạnh thể lực, như bắn súng, bắn cung, đua thuyền, đưa ngựa và đấu kiếm.

Đối với các môn đòi hỏi sức bền, giới hạn tối đa để có thể tranh tài ở các mức độ thể thao cao nhất dường như xoay quanh độ tuổi 40.

Chris Horner đã giành chiến thắng trong giải đua xe đạp Vuelta a Espana năm 2013, một phiên bản Tây Ban Nha của Tour de France, khi tiếp cận gần độ tuổi 42. Điều này đã khiến ông trở thành quán quân già nhất của một giải Grand Tour trong lĩnh vực đua xe đạp.

Quán quân chạy marathon già nhất ở Olympic là vận động viên người Romania Constantina Dita Tomescu. Khi tranh tài ở Olympic Bắc Kinh năm 2008, cô đã được 38 tuổi.

Dara Torres, ở độ tuổi 41 vào năm 2008, là vận động viên bơi lội già nhất tranh tài trong lịch sử Olympic, bở lỡ tấm huy chương vàng trong nội dung 50 m bơi sải sau khi cán đích chỉ chậm hơn vài phần trăm của một giây.

Nhưng những trường hợp này là ngoại lệ, không phải hiện tượng phổ biến. (còn nữa)

Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017

Ai xếp dù cho bạn (Who’s packing your parachute?)

(Bài cũ soạn lại)

Charles Plumb là phi công phản lực cơ Hải quân Hoa Kỳ. Sau 75 phi vụ chiến đấu, phi cơ của anh bị tên lửa đất đối không Bắc Việt bắn hạ. Anh nhảy dù, bị bắt và bị giam 6 năm trong nhà tù Bắc Việt. Anh sống sót và giờ đây đưa ra những bài học xương máu từ trải nghiệm ấy:

Vào ngày nọ, khi Plumb cùng vợ đang ngồi tại một nhà hàng, một kẻ từ bàn khác bước tới: “Ông là Plumb? Ông lái phản lực cơ trên tàu sân bay Kitty Hawk? Ông đã từng bị bắn rơi?”
Plumb tròn xoe mắt:“Vâng. Nhưng sao ông biết được chuyện đó vậy?”
Người đàn ông trả lời: “Tôi đã xếp dù cho ông mà”.
Plumb há hốc mồm ngạc nhiên và tỏ lòng biết ơn.
Người đàn ông khoa tay, nói: “Tôi nghĩ là chiếc dù bọc gió tốt chứ?”.
Plumb gật đầu: “Chắc chắn rồi. Nếu không thì tôi đâu có mặt ở đây hôm nay”.

Plumb trằn trọc suốt đêm, nghĩ ngợi về người đàn ông ấy: “Tôi cứ phân vân mãi, không biết anh ấy trông như thế nào trong bộ đồng phục hải quân – một cái mũ trắng, một miếng yếm phía sau lưng, và quần ống loe”. Tôi tự hỏi nhiều lần là tôi đã từng gặp anh ta chưa, và thậm chí hình như tôi chưa từng nói với anh ta “Chào buổi sáng, khoẻ không?’ hay bất cứ điều gì, bởi vì, bạn thấy đấy, tôi là phi công chiến đấu còn anh ta chỉ là một thuỷ thủ quèn”.
Plumb nghĩ đến người thuỷ thủ ấy đã từng trải qua nhiều giờ tại chiếc bàn gỗ dài nơi hầm tàu, cẩn thận căng so dây dù và gấp những mảnh vải của từng cái dù. Mỗi lần như thế, anh ta nắm trong tay số phận của một người nào đó mà anh không hề biết đến.

Và bây giờ – Plumb hỏi thính giả – vậy ai đang xếp dù cho các bạn đây? Mọi người đều phải nhờ ai đó cung cấp những gì mình cần để hoàn thành công việc trong ngày. Mỗi người cũng chỉ rõ ra là mình cần nhiều loại dù khi phi cơ của mình bị rơi – Ai cũng cần loại dù Thể chất, dù Trí tuệ, dù Cảm dục và dù Tâm linh. Mọi người đều cần đến tất cả những hỗ trợ này mới đạt đến chỗ an lành.

Đôi lúc, trong những thử thách hàng ngày mà cuộc đời bày ra cho chúng ta, chúng ta bỏ quên những gì là thực sự quan trọng. Chúng ta có thể bỏ qua lời nói xin chào, xin vui lòng, hay xin cám ơn, xin chúc mừng ai đó về việc gì tuyệt vời xảy đến cho họ, nói lời khen tặng, hay chỉ làm một điều gì đó tốt đẹp mà không có mong cầu gì cả. Khi trải qua tuần này, tháng này, năm này, bạn hãy nhận ra người xếp dù cho mình.

Tôi gởi cho các bạn thông điệp này như là cách cám ơn sự tham gia của các bạn trong việc xếp dù cho tôi. Và tôi hy vọng rằng các bạn sẽ gửi thông điệp này cho những ai đã và đang xếp dù cho bạn. 

Đôi lúc, chúng ta tự hỏi tại sao có những người bạn vẫn tiếp tục chuyển những câu chuyện vui cho chúng ta mà không cần thêm thắt một lời nào.

Có lẽ điều này được giải thích như thế này: Khi các bạn quá bận rộn, nhưng vẫn còn muốn giữ mối quan hệ, đánh giá những gì bạn làm – bạn hãy chuyển những câu chuyện vui. Và để bạn biết rằng bạn vẫn được nhớ đến, bạn vẫn còn quan trọng, bạn vẫn còn được yêu mến, bạn vẫn còn được quan tâm, hãy đoán xem bạn nhận được gì nào? Đó là một câu chuyện vui được chuyển đến cho bạn. 

Vì vậy, những bạn của tôi và những người thân của tôi, vào lần tới, khi bạn nhận được một câu chuyện vui cười, đừng nghĩ rằng bạn chỉ được gửi đến một câu chuyện vui cười, mà là bạn được nhớ tới vào ngày hôm nay, và bạn của bạn bên đầu kia của máy vi tính, muốn gửi cho bạn một nụ cười, mà đúng ra là giúp bạn xếp chiếc dù của bạn mà thôi.

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2016

Thiết bị tìm kiếm máy bay, tàu thủy bị chìm trên biển

Có bạn hỏi làm sao lực lượng cứu nạn máy bay SU-30 và CASA nhìn thấy được đáy biển? Bài sưu tầm xin giới thiệu về thiết bị này:

Sidescan Sonar là phương pháp thu hình các chi tiết đáy từ sự phản hồi sóng siêu âm. Máy định vị Sonar là một thiết bị có độ phân giải đủ để thể hiện các hình ảnh cơ bản đáy nước ở hai bên tuyến khảo sát. Sidescan Sonar không cung cấp độ cao tuyệt đối của đối tượng, mà là độ cao của vật thể tới đáy, từ đó độ cao của vật thể có thể ước tính.

Máy định vị Sonar trông giống trái tên lửa hoặc con cá, gọi là Towfish (con cá). Khi treo cách đáy biển 50 m sẽ có thể nhìn thấy các vật trong vòng chừng 600 m2. Tuy vậy, với Sonar, một xác người trông không khác gì một gò cát trên màn hình. Ngay cả xác tàu đắm cũng khó nhận ra trên màn hình nếu người điều khiển Sonar không được huấn luyện. Khi phát hiện một vật bất thường ở đáy biển, người ta hạ Sonar xuống vài mét để có hình ảnh rõ hơn.

Sidescan Sonar gồm thiết bị ghi, một cảm biến chìm trong nước, nối với nhau bằng cáp tín hiệu. Sidescan Sonar là thiết bị ghi, nạp tín hiệu cho Towfish – phần thiết bị kéo ngầm dưới nước. Lệnh từ thiết bị ghi truyền đến đầu phát (Transducer).

Đầu phát phát xung siêu âm sẽ phát sóng (xung) xuyên trong nước, thẳng xuống đáy biển. Sau khoảng thời gian cực ngắn, sóng siêu âm phản xạ lại từ đáy nước dội trở về máy thu, được khuếch đại và truyền về thiết bị ghi. Thiết bị ghi xử lý tín hiệu, số hóa và tính toán vị trí tương ứng trong bản ghi (từng pixel một), rồi truyền số liệu này vào thiết bị ghi lưu. Số liệu thu được cho phép tính toán số liệu hiệu chỉnh độ xiên để tạo ra hình ảnh phẳng, và có thể ghép thành một vùng rộng của đáy được khảo sát.

Chiều cao và tốc độ kéo thiết bị: Chất lượng của số liệu là một hàm số của chiều cao Towfish so với đáy hoặc đối tượng dưới đáy. Với cấu hình tiêu chuẩn, việc khảo sát được tiến hành với Towfish ở cao độ so với đáy từ 8-20% phạm vi đo. Nếu kéo Towfish cao hơn thì vùng khuất sẽ giảm và việc nhận biết địa vật cũng giảm. Nếu kéo Towfish thấp hơn sẽ giảm hiệu quả của tín hiệu ở vùng biên. Tốc độ kéo sẽ điều chỉnh sao cho mỗi địa vật được sóng siêu âm phản xạ 3 lần.

Hình ảnh về đối tượng được khảo sát: Độ chính xác (khả năng nhận biết kích thước địa vật đáy) phụ thuộc và nhiều yếu tố: kích thước và hình dạng của địa vật, dạng vật liệu và độ phản xạ, tạp âm, nhiễu, và mức độ ổn định của Towfish. Một vùng khuất phía trước với tín hiệu phản xạ mạnh cho biết có chỗ lõm lớn. Một vùng khuất ở phía sau với tín hiệu phản xạ mạnh cho biết có sự nhô lên đột ngột của đáy.

Tính toán chiều cao của địa vật: Chiều cao của địa vật có thể ước tính từ bóng che của nó. Độ phản xạ của sóng siêu âm là một hàm của kích thước địa vật, hình dạng, hướng so với Towfish, và kết cấu của nó. Thép và đá phản xạ tốt nhất. Sợi thủy tinh, gỗ, chất dẻo, cao su phản xạ yếu.

Xác định vị trí của địa vật: Để xác lập vị trí một cách chính xác, trước hết phải có vị trí chính xác của tàu khảo sát, rồi nạp vị trí này cho Towfish. Vị trí đầu phát (Transducer) là điểm gốc của hệ tọa độ được sử dụng trên tàu. Hướng về trước và ra sau là hướng chính, khoảng cách vuông góc với hướng chính từ Towfish tới mạn tàu gọi là offset. Thông thường, hướng chính là dương khi ở phía sau, và offset là dương khi ở bên phải mạn tàu. Vị trí của Transducer được tính tại anten của GPS (phương pháp hình học). Khi vị trí của Towfish được xác định thì ta sẽ tính được vị trí của địa vật. Đại lượng offset (trong bộ ghi của Sonar) sẽ có giá trị dương đối với mạn phải và âm đối với mạn trái. Khi biết giá trị offset của Towfish so với tàu khảo sát thì sẽ tính được vị trí của địa vật.

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

Thế giới có bao nhiêu Hiệp hội lặn

(Bài của anh AMk3)

Lặn thể thao, hay còn được gọi là lặn chơi, lặn giải trí (recreational diving) không chịu quản lý và cấp chứng nhận bởi một cơ quan quản lý Hành chính Nhà nước, mà thường là tự quản lý, tự điều chỉnh. Tuy nhiên, cũng có một số tổ chức lớn thực hiện chức năng đào tạo và chứng nhận cho các divers (thợ lặn) và instructor (huấn luyện viên). Từ đây, rất nhiều các cuộc mua bán, dịch vụ liên quan đến lặn và thuê mướn thiết bị lặn đòi hỏi phải có sự bảo đảm bằng các bằng cấp, chứng chỉ được cấp bởi các tổ chức này, trước khi có thể thực hiện một dịch vụ hoặc sản phẩm lặn nhất định.

Trong số 49 hiệp hội lặn có uy tín trên trường quốc tế, thì những tổ chức quốc tế được cấp chứng chỉ lặn lớn nhất – hiện đang được phần lớn các hãng sản xuất trang bị lặn và các siêu thị đồ lặn công nhận – bao gồm:

• ACUC: American Canadian Underwater Certifications (trước kia là Association of Canadian Underwater Councils) –Xuất xứ Canada năm 1969 và mở rộng thành quốc tế từ 1984.

• BSAC: British Sub Aqua Club – Trụ sở ở Anh quốc, thành lập 1953 và là câu lạc bộ lặn lớn nhất thế giới hiện nay.

• CEDIP: European Committee of Professional Diving Instructors – Trụ sở ở châu Âu từ 1992 (see Cedip on French Wiki pages).

• CMAS: Confédération Mondiale des Activités Subaquatiques, liên đoàn thế giới dưới nước. 
28/9/1958, các đại biểu Cộng hòa Liên bang Đức (vai trò chính), Bỉ, Brazil, Pháp, Hy Lạp, Ý, Monaco, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ và Nam Tư đã gặp nhau tại Brussels vào dịp Đại hội của Liên đoàn quốc tế độc lập thu thập tất cả các môn dưới nước. Với mục tiêu này, một cuộc họp được tổ chức tại Monaco vào ngày 09 Tháng 1, và tháng 10, 11 năm 1959 quyết định thành lập “Liên đoàn thế giới dưới nước” CMAS.

• NAUI: National Association of Underwater Instructors – Trụ sở tại Mỹ (đối thủ cạnh tranh của PADI).

• PDIC: Professional Diving Instructors Corporation – Trụ sở tại Mỹ .

• PADI: Professional Association of Diving Instructors –Trụ sở tại Mỹ, tổ chức quốc tế về đào tạo và cấp chứng chỉ lặn lớn nhất thế giới.

• SSAC or ScotSAC: Scottish Sub Aqua Club, Cơ quan quốc gia thể thao lặn tại Scotland.

• International Training SDI, TDI & ERDi – Trụ sở tại Mỹ, TDI là cơ quan lặn kỹ thuật lớn nhất thế giới, SDI là nhóm lặn thể thao dựa trên các phương pháp mới và đào tạo trực tuyến, và ERDi là thành phần an toàn công cộng.


• SSI: Scuba Schools International – Có trụ sở tại Mỹ với 35 trung tâm khu vực văn phòng vùng trên toàn thế giới.

Trong số các tổ chức nói trên, nổi tiếng và có ảnh hưởng rộng nhất trong giới lặn recreational là PADI. Các trung tâm lặn, đào tạo và hệ thống cửa hàng trang thiết bị lặn ở Việt nam thường đều theo chuẩn và được chứng nhận bởi PADI. Ngoài ra, một số trung tâm lặn ở Việt nam còn đào tạo chương trình của SSI. 

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2016

Con tàu ma Mary Celeste (P2)

(Tiếp theo và hết)

Ở thời điểm chuyển giao thế kỷ, một số tin rằng Mary Celeste đã bị con mực khổng lồ hoặc Kraken (quái vật xúc tu chuyên đánh chìm tàu bè trên biển) tấn công. Nhưng cứ cho là nó thì tại sao nó lại lấy đi các loại giấy tờ trên tàu, và tại sao con tàu bị tấn công nhưng không có ai trên tàu chiến đấu – kiếm của họ vẫn nằm trong vỏ. Khi thấy nhiều vết đỏ trên tàu, người ta kết luận đó là máu nhưng thực chất chúng chỉ là gỉ sét.

Về xuồng cứu sinh, có một sự đồng thuận giữa những người nghiên cứu, bao gồm cả tòa án, cho rằng con tàu đã bị bỏ lại. Các dấu hiệu lộn xộn trên chiếc giường của thuyền trưởng, quần áo của thủy thủ đoàn vương vãi cho thấy một cuộc tháo chạy trong vội vã. Ngoài ra, vài sợi dây thừng cũng biến mất dẫn đến kết luận thủy thủ đoàn đã rời hết xuống con xuồng, dùng dây thừng buộc nó vào sau tàu Celeste.

Về lý do di chuyển, có ba giả thuyết được ủng hộ nhiều nhất:

Thứ nhất, có thể thực phẩm trên tàu bị nhiễm độc, gây ảo giác và khiến các thủy thủ bỏ tàu. Người ta tìm thấy một chất trong bánh mì lúa mạch đen trên tàu có thể tạo ảo giác. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn từ tàu Dei Gratia cũng đã sử dụng chính đồ ăn trên tàu Celeste trong hơn một tuần mà không thấy hiện tượng gì bất thường. Vì vậy, giả thuyết thứ nhất có thể loại bỏ.

Thứ hai, khi các thùng rượu được mở ra, có 9 thùng trống rỗng, rõ ràng đã bị rò rỉ trong chuyến đi. Thuyền trưởng cho rằng lượng hơi bốc ra bị giới hạn trong một không gian nhỏ rất dễ phát nổ. Vì vậy, khoang tàu đã được mở toang để hơi thoát đi và thủy thủ đoàn phải sơ tán lên xuồng cứu sinh, giữ một khoảng cách an toàn.

Thứ ba, giả thuyết của Tiến sĩ James H. Kimble: tàu Celeste đã gặp phải cơn lốc xoáy trên biển, thường xuất hiện và tiêu tan một cách nhanh chóng. Nó không gây thiệt hại gì đáng kể và là lời giải thích hợp lý cho lượng nước trong tàu lúc được tìm thấy. Nhưng Briggs thì không nghĩ thế. Ông cho rằng con tàu sắp chìm.
Trong trường hợp 2 và 3, các thuyền viên và gia đình Briggs sẽ nhanh chóng rời tàu. Tuy nhiên, khu vực Bắc Đại tây dương vào mùa đông được coi là nơi khá nguy hiểm cho nên hành động này có thể là nguyên nhân dẫn đến hậu quả đáng tiếc.

Hàng thế kỷ qua, đã có rất nhiều giả thuyết được đưa ra phân tích, mổ xẻ nhưng không có lời giải thích nào thoả đáng. Kết quả là cứ nhắc đến những “con tàu ma” thì cái tên Mary Celeste bao giờ cũng đứng ở vị trí đầu tiên và trở thành bí ẩn lớn nhất mọi thời đại của ngành hàng hải thế giới.

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016

Con tàu ma Mary Celeste (P1)

(Theo tinmoi.vn, trích đăng)

Ngày 4/11/1872, hai người bạn cũ, thuyền trưởng David Reed Morehouse (tàu hàng Dei gratia, Anh) và thuyền trưởng Benjamin Briggs (tàu Mary Celeste của Mỹ) cùng ăn tối ở New York. Họ dừng chân ở New York trước khi Morehouse ra khơi vào ngày 15/11, còn Briggs đi vào hôm sau, đều đi châu Âu.

Ngày 5/12/1872, Morehouse kinh ngạc khi thấy tàu Mary Celeste của Briggs đang trôi dạt ở khu vực giữa Bồ đào nha và quần đảo Azores. Tiếp cận con tàu, họ nhận thấy tàu này tuy có bị nước tràn vào một chút nhưng nhìn chung trong tình trạng rất tốt. Hàng hóa gồm 1.701 thùng rượu, lương thực thực phẩm và nước ngọt đủ cho 6 tháng vẫn còn, không bị xáo trộn, chỉ duy nhất một thùng rượu bị hư hỏng, vật dụng cá nhân của cả đoàn đều ở nguyên vị trí, một chiếc bơm đang hoạt động với 2 cánh buồm được giương lên. Không hề có bất kỳ dấu hiệu nào của con người. Hầu hết giấy tờ và thiết bị định vị trên tàu đã biến mất, tuy nhiên, cuốn nhật ký hàng hải thì vẫn còn, trong đó ngày cuối cùng được đặt bút là 25/11/1872, khi tàu này gần tới đảo St Mary, cách nơi người ta tìm thấy nó khoảng 700 dặm. Điều kỳ lạ là tất cả đều mất tích không dấu vết, mặc dù thời tiết lúc đó tốt và thuỷ thủ đoàn là những người có kinh nghiệm.

Frederick Solly Flood, luật sư tòa án Hải quân Anh, đưa ra giả thuyết: toàn bộ thủy thủ đột nhập vào khoang hàng hóa, uống rượu và giết chết thuyền trưởng Briggs, vợ và con gái ông, cùng phó thuyền trưởng Richardson. Nhưng sau đó, chính Flood đã tự loại bỏ giả thuyết này và chuyển sang quan điểm rằng do rượu đã bị biến chất và nhiều khả năng là nguyên nhân dẫn đến cái chết cho ai chẳng may uống phải.

Rồi ông lại đưa ra giả thuyết khác: Briggs và Morehouse, đã âm mưu lừa gạt thủy thủ tàu Mary Celeste. Theo kế hoạch, Briggs giết thủy thủ đoàn của mình, Morehouse sau đó sẽ yêu cầu bồi thường cho việc cứu hộ tàu Celeste và chia tiền với Briggs. Tuy nhiên, Briggs và Morehouse được biết đến là những người đáng kính, có lý lịch tốt, không thể là kẻ giết người.

Mặc dù vậy, Flood vẫn không từ bỏ suy nghĩ của mình. Nếu Briggs không làm điều đó thì nhất định là Morehouse. Flood tố cáo các thủy thủ của Dei Gratia đã tấn công tàu Mary Celeste vì lợi ích có thể nhận được với tư cách là người cứu hộ. Sau nhiều tháng đưa ra lời vu khống chống lại Morehouse, tòa án Admiralty cuối cùng đã minh oan và thanh toán mọi chi phí cho đoàn của Morehouse.
Thời điểm đó, thế giới rất quan tâm đến những cáo buộc của Flood, thậm chí trong một bài viết trên tờ New York Times, Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ William Richard cũng đưa ra nhận định của riêng mình với vụ án này và đồng ý với giả thuyết của Flood khi cho rằng đây là một cuộc nổi loạn.

Tháng 1/1884, tạp chí Cornhill Magazine đăng truyện ngắn với tiêu đề “J.Habakuk Jephson's Statement”, tác giả là Arthur Conan Doyle (người sau này viết tiểu thuyết trinh thám Sherlock Holmes). Truyện xây dựng từ sự cố tàu Mary Celeste, trong đó, tác giả nói đã tìm thấy những giấy tờ của Abel Fosdyk, một hành khách trên tàu. Theo Fosdyk, vị thuyền trưởng đã tranh luận với 2 thủy thủ về tốc độ bơi. Và để chứng tỏ mình đúng, cả 3 cùng nhảy xuống nước bơi mà không biết sắp làm mồi cho cá mập. Những người còn lại chạy đến theo dõi. Bất ngờ phần mũi tàu nơi họ đứng bị gãy, tất cả cùng chịu chung số phận với vị thuyền trưởng. Fosdyk là người duy nhất sống sót vì đã bám được một mảnh ván và trôi dạt vào bờ biển ở châu Phi. Đây chỉ là giả thuyết không có cơ sở khi nhân chứng Fosdyk đã chết và chẳng ai có thể kiểm chứng được.

Câu chuyện tiếp theo xuất hiện vào cuối những năm 20, khi Lee Kaye của tạp chí Chamber's Journal viết về một “Người duy nhất còn sống sót” là John Pemberton, về những chi tiết đã xảy ra trên tàu. Câu chuyện Pemberton sau đó đã được Laurence Keating xuất bản năm 1929, có tên “Mary Celeste Hoax”, và trở thành cuốn sách bán chạy nhất toàn khu vực Đại tây dương, cho đến khi Kaye bị tố cáo là lừa bịp.

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Một chút về lịch sử thi bơi quốc tế

Năm 36 trước Công nguyên, thi đấu môn bơi đã được tổ chức tại Nhật – tổ chức sớm nhất trên thế giới.

Năm 1869, Luân Đôn thành lập “Hiệp hội Câu lạc bộ bơi lội đô thị lớn” – một tổ chức tương tự như Liên đoàn, quy tắc thi đấu môn bơi ra đời. 

Năm 1896, tại “Thế vận hội hiện đại” lần thứ nhất tổ chức tại A-ten, bơi lội trở thành môn chính thức với ba nội dung thi đấu.

Hiệp hội bơi lội thế giới thành lập năm 1837.

Hồi năm 1896, khi bơi lội được đưa vào thi đấu ở Thế vận hội, môn bơi không phân chia kiểu bơi, tức “bơi tự do” theo đúng nghĩa đen, và chỉ có ba nội dung 100 mét, 500 mét, 1.200 mét.

Thế vận hội lần thứ 2 năm 1900 có thêm kiểu bơi ngửa.

Thế vận hội lần thứ 3 năm 1904 có thêm kiểu bơi ếch.

Tới năm 1908 mới có quy định về các môn thi đấu trong bể bơi.

Thế vận hội lần thứ 5 năm 1912 mới có thi đấu môn bơi của nữ.

Thế vận hội lần thứ 16 năm 1956 thêm kiểu bơi bướm, và từ đó có hình thức cố định là bốn kiểu bơi. Thi đấu môn bơi tại Thế vận hội sau đó có 6 môn, là bơi tự do, bơi ếch, bơi bướm, bơi ngửa, bơi phối hợp và bơi tiếp sức (gồm bơi tự do và bơi phối hợp) với 32 nội dung.

Hình minh họa.


Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

Vi cá mập dưới góc nhìn của thợ lặn giải trí

Hay: Trị ung thư bằng vi cá mập - huyền thoại và sự thật.

Người ta nói vi cá mập có đặc tính chống ung thư. Quan niệm này xuất phát từ nguồn tin là cá 
mập không bao giờ mắc bệnh ung thư. Song trên thực tế ung thư cũng tấn công cá mập.

Viện Ung thư quốc gia Mỹ vừa nghiên cứu khả năng trị ung thư của vi cá mập bằng cách chiết xuất chất trong vi rồi đưa nó vào cơ thể bệnh nhân ung thư phổi. “Chúng tôi muốn tìm hiểu xem chất chiết xuất từ vi cá mập có thể kéo dài thời gian sống của bệnh nhân ung thư hay không. Thật không may, chúng tôi thấy sự hiện diện của chất đó không làm tăng thời gian sống của họ”, Charles Lu, chuyên gia trung tâm Ung thư M.D.Anderson (Mỹ), thông báo.

Một báo cáo khác công bố năm 2001 của tổ chức Wild Aid cho thấy nồng độ thủy ngân trong vi cá mập tại Hong Kong (một nước nhập khẩu vi cá mập trên khắp thế giới) cao gấp 42 lần so với mức mà cơ thể người có thể chịu đựng.

Nói nôm na, cơ thể mọi loài động vật (bao gồm cả loài người) lúc nào cũng có rất nhiều tế bào già cỗi bị loại bỏ và rất nhiều tế bào ra đời để thay thế chúng. Để tế bào mới giống hệt tế bào cũ, cơ thể sẽ phát ra tín hiệu (mã) di truyền (ARN) làm "chuẩn" cho quá trình "sản xuất" tế bào mới. Rất tiếc, mã bị sai lệch là chuyện thường xuyên, dẫn tới việc ra đời các "sản phẩm" sai lệch. Nếu tế bào sai lệch ít thì cơ thể đó không sao (và cơ thể đó sẽ sửa sai), còn nếu tế bào sai lệch tăng quá một giới hạn nào đó thì Ngành y gọi hiện tượng đó là "ung thư".

Không chỉ loài người, loài cá mập cũng không ngoại lệ, và do vậy, giết chúng để trị ung thư là một sai lầm. Hãy để chúng được yên. Hãy để cho chúng tôi (những thợ lặn giải trí) được chiên ngưỡng chúng.

Bạn sẽ hỏi: Những ai không bị sai lệch ARN? Trả lời: Làm gì có ai.
Bạn sẽ hỏi: Vi cá mập không có tác dụng thì gặp ung thư sẽ tính sao đây? Trả lời: Là thợ lặn, chúng tôi chỉ có thể trả lời là hãy đi lặn gỉải trí cùng chúng tôi. Chúng tôi nghĩ rằng, đó là một trong các biện pháp điều trị hiệu quả nhất.

H: Cho cá mập ăn - huấn luyện theo lý thuyết phản xạ có điều kiện.

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

Vầng sáng dưới đáy biển

(Theo khoahoc.com.vn, trích đăng)

Vào thập niên 1980, Hạm đội Nga (VMF) đã ban hành một chỉ thị mật: "Các hướng dẫn theo dõi những hiện tượng thể lý bất thường và tác động của chúng lên môi trường, cơ thể sống và các phương tiện kỹ thuật" ... "Những hiện tượng thể lý bất thường hay những vật thể (không giống những hiện tượng hay vật thể mà chúng ta đã biết) là những hiện tượng được nhiều người quan sát bình thường, các chuyên gia, các nhà thiên văn học, các phi hành đoàn, thủy thủ đoàn nhìn thấy ở nước ta và nước ngoài. Trong một số trường hợp, những hiện tượng này chưa thể giải thích. Vấn đề này cần được nghiên cứu nghiêm túc. Nếu phát hiện những hiện tượng bất thường này, các thuyền trưởng trong vòng năm ngày (trong trường hợp xuất hiện UFO dẫn tới ảnh hưởng kỹ thuật hay con người) phải ngay lập tức thông báo về Bộ chỉ huy Hạm đội".

Các thợ lặn từng phát hiện luồng ánh sáng lạ từ lòng biển. Đại tá hải quân Sergei Laboda, Nga, cho biết: "Vào năm 1983, tại vịnh Vizcaya, người Pháp chuẩn bị thử nghiệm một tàu ngầm nguyên tử chiến lược mới, còn con thuyền trinh sát của chúng tôi được cử đi thu thập thông tin, đo đạc các thông số kiểm tra. Phiên trực của tôi bắt đầu từ sáng sớm. Nhưng không lâu trước bình minh, cách chúng tôi 4 dặm có một đốm sáng trên mặt nước. Có cái gì đó lấp lánh bay từ dưới mặt nước, giống như một con cào cào khổng lồ, nhưng rồi vừa tới mặt nước lại lặn xuống, không gây tiếng sóng. Người Pháp từ một chiếc tàu canh chừng chúng tôi cũng nhận thấy hiện tượng đó. Từ kinh nghiệm đi biển của mình, tôi thấy đây là hiện tượng không bình thường và đã báo cáo về Bộ chỉ huy. Người Pháp thì bỏ luôn việc thử nghiệm và rời khỏi vùng này".

Giả thiết 1: Do các vi sinh vật chiếu sáng.

Các nhà khoa học cho rằng các thủy thủ không bị ảo giác. Có thể đó là do các sinh vật, như nhà đại dương học người Đức Karl Kalle nhận xét, sau khi phân tích hơn 2.000 trường hợp chiếu sáng trong lòng biển. Để biển sáng lên, cần có sự di chuyển của các làn nước dưới đáy biển, thường được tạo ra bởi động đất hay núi lửa phún xuất trong lòng biển. Trong trường hợp đó, các cú đập của sóng sẽ chuyển thành cột nước dày trồi lên bề mặt, cùng lúc nó đẩy lên mặt nước các vi sinh vật chiếu sáng vốn đầy rẫy trong lòng đại dương.

Tuy nhiên, A.Golubev, trợ lý thuyền trưởng tàu đánh cá Kamchatka, tỏ ra nghi ngờ giả thiết này. Golubev đã hai lần quan sát những vòng tròn chiếu sáng trong lòng biển Okhotsk. Ông cho biết vào năm 1998, lúc đó ông là trợ lý thuyền trưởng tàu "Thuyền trưởng Kantsiber": Đó là một đêm không trăng, ông vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện một vùng sáng mờ đục trải rộng trên biển qua cửa kính. Ông nghĩ "chắc có thuyền nào gần đó" nhưng màn hình máy định vị trống rỗng. Ông bước ra mũi tàu và thấy con tàu nằm ngay tâm điểm của vùng sáng đường kính gần hai dặm. Giống như dưới đáy biển ai đó bật một ngọn đèn pha cực mạnh. Ánh sáng này không hề bị khúc xạ, cả một chùm tia thẳng!

Năm phút sau, khi ông còn đang cân nhắc thì vùng sáng đó di chuyển cùng tàu với tốc độ 10 hải lý/giờ. Không có các vi sinh vật chiếu sáng nào có thể bơi với tốc độ nhanh như thế. Và khi ông bước ra ngoài lần nữa, bên phải đường đi của tàu xuất hiện một vùng sáng thứ hai và tàu song hành lướt trên sóng biển Okhotsk thêm 15 phút nữa. Sau đó đốm sáng thứ hai tiến về phía trước, cắt ngang đường tiến của tàu rồi bất ngờ dừng lại, biến mất. Cũng ở vùng biển đó, trên tàu "Tesei", ông Golubev đã gặp lại đốm sáng trên lần thứ hai tháng 4/2001, khi tàu đang đi về phía Trung quốc, cũng trong một ca trực đêm và con tàu cũng rơi vào giữa quầng sáng đó.

Giả thiết 2: Chỉ là ngư lôi huấn luyện.

Theo đại tá hải quân Vadim Kulichenko, trong việc huấn luyện trên Hạm đội người ta dùng ngư lôi huấn luyện (sử dụng nhiều lần). "Các ngư lôi này được phóng khỏi tàu hay tàu ngầm và chúng sẽ đi xa khoảng 10-15km rồi dừng lại. Tập xong, ca nô chuyên dụng sẽ lượm nó về để sử dụng cho lần sau. Để dễ tìm chúng trên biển, người ta gắn cho chúng đèn pha cực mạnh, phát ánh sáng thẳng đứng. Bộ ăcqui dự trữ đủ dùng cho hai ngày. Cũng có lúc các ngư lôi này bị lạc, và có thể, dòng chảy đã đưa nó đi xa ra khỏi ranh giới của "bãi thử", lạc vào các tuyến đường thương mại”.

Tuy nhiên, những hiện tượng bất thường trong lòng đại dương đã được ghi nhận từ trước khi thế giới biết tới UFO. Năm 1919, nhà nghiên cứu người Anh Charles Fort đã kể trong quyển sách The book of the damned (Những điều đáng nguyền rủa) chuyện một con tàu của Công ty Anh - Ấn Patna đụng phải "bánh xe quỷ" năm 1880. Thuyền trưởng Averna kể lại: Trong mỗi bánh xe có 16 căm, bánh xe có đường kính từ 500 - 600 yard, các căm xe này được bố trí rất đồng đều. Trong 20 phút, các bánh xe này chạy cùng với con tàu như song hành, sau đó bất ngờ biến mất. Khi đó, thế giới chưa có ngư lôi huấn luyện.


Năm 1976, tàu nghiên cứu khoa học "Vladimir Vorobyev" phát hiện trên biển Ả rập một đốm sáng trắng, quay ngược chiều kim đồng hồ. Máy dò tiếng vọng trên tàu báo có vật gì đó lớn ở độ sâu 20 mét. Xuất hiện quầng sáng vào 23g30, và nửa đêm nó biến mất. Vì đây là con tàu nghiên cứu, các chuyên gia hiểu vấn đề nên họ đã đo nhiệt độ nước: 26 độ C - một nhiệt độ được cho là trung bình. Họ cũng lấy mẫu nước biển để thử và không tìm thấy một hóa chất hay vật thể vi sinh chiếu sáng nào.

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Tàu phá băng - loại tàu thủy chuyên chạy trên vùng biển băng dày đặc

Các loại tàu thủy thông dụng khi đi vào vùng  biển băng giá sẽ gặp nguy cơ bị kẹt trong băng, thậm chí bị băng bóp vỡ như ta đập quả trứng. Ví dụ trường hợp của tàu Titanic cách đây hơn 100 năm, mới chỉ "quẹt sơ" tảng băng trôi mà đã bị gãy làm tư (nguồn tin từ tàu ngầm khảo sát), chìm tuốt luốt. 

So với các loại tàu thủy thông dụng, tàu phá băng, về nguyên lý, có cấu trúc khác biệt, như mũi tàu vát góc 20 – 35 độ so với mặt nước, giúp nó trườn lên mặt băng một cách dễ dàng. Hai mặt bên của đầu tàu, đuôi tàu và bụng tàu có những khoang chứa nước rất lớn - lớn hơn nhiều so với "két nước dằn" của tàu thủy thường. Thân tàu to rộng nhưng phần trước thon lại phù hợp với việc xẻ đường trong lớp băng. Vỏ tàu có kết cấu vững chắc hơn tàu thủy thông dụng.

Để dễ dàng tiến, lui và cơ động trong băng, thân tàu thường ngắn hơn tàu thường: Tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của các tàu vào khoảng 7 – 9/1, còn tàu phá băng là 4/1. Ngoài ra tàu phá băng thường có mớm nước sâu hơn để “tăng trọng” cho mỗi khi phá băng – phần thân tàu khi được nhô lên mặt nước sẽ “tăng trọng” (thoát khỏi lực nâng Ác si mét) so với khi nó ở trong nước.

Khi đụng tầng băng, tàu từ từ tiến để mũi tàu trườn lên mặt băng, sau đó đầu tàu sẽ đè lên mặt băng – sức nặng của nó sẽ đè vỡ băng (chứ không phải nó húc đầu vào tảng băng để xẻ đôi nó ra - như ta xẻ đôi trái dưa hấu). Cứ thế, tàu phá băng tiến lên trong vùng biển băng giá.

Gặp lớp băng vững chắc hơn, người ta bơm nước vào khoang chứa nước ở đuôi tàu. Khi này do trọng tâm của tàu chuyển về phía sau, nên đầu tàu sẽ ngóc lên cao. Sau đó cho tàu tiến lên một chút để mũi tàu trườn lên tầng băng, tiếp đó tháo nước ở khoang chứa nước ở đuôi tàu ra, đồng thời bơm đầy nước vào khoang chứa ở đầu tàu. Như vậy đầu tàu được cộng thêm trọng lượng của hàng trăm tấn nước.

Khi tàu phá băng bị mắc kẹt trong vùng băng quá kiên cố, người ta cho tàu lắc qua lắc lại để giải thoát. Bơm nước vào khoang chứa nước ở một bên sườn, tàu sẽ nghiêng về bên đó. Rồi xả nước ở sườn này và bơm nước vào khoang ở sườn bên kia, tàu sẽ nghiêng về bên kia. Cứ bơm và xả nước – nhanh chóng và liên tục – làm tàu lắc qua lắc lại nhiều lần và làm cho khe hở của lớp băng được nới rộng ra, và tàu sẽ thoát ra khỏi lớp băng.

H1-2: Tàu phá băng (H1) và tàu ... không phá băng (H2), với lời bình vui: Không phải cứ tướng tá bặm trợn mà "ngon", ngược lại, không nhất thiết có dáng hiền lành, chất phác mà là kẻ "hèn kém".

H3: Do vậy, nếu bạn đi trên tàu phá băng thì khỏi sợ tai nạn như Titanic, nhưng cũng chẳng sung sướng gì, vì khi đang phá băng thì nó cứ nhảy cà tưng y như chiếc xe hơi vượt chướng ngại vật.

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2015

Jeju - đảo thợ lặn

(Bài của một du khách, trích đăng)

Jeju rộng 1.845 km2, là đảo lớn nhất của Hàn Quốc, hình thành từ những đợt phun trào núi lửa, vì thế cảnh quan Jeju là đá đen. Đâu đâu cũng thấy đá đen nên những vườn quýt trĩu quả vàng ươm có nền để nổi bật. Chính các mỏm đá có hình thù đặc biệt và miệng núi lửa của đảo là nơi thu hút khách du lịch. 

Nền địa chất ở đây đã tạo cho Jeju một sự “bí hiểm” với “con đường ma quái” được phát hiện cách đây không lâu bởi một người tài xế taxi. Ma quái vì là một con dốc nhưng khi đi ngược dốc, dù xe tải, xe khách lớn hay taxi, xe đạp cũng tự leo lên được, không cần sức người, sức máy. Cũng có người giải thích đây chỉ là hiện tượng mang tính ảo giác. Nhưng dù là lý do gì thì người dân ở đây cũng thu bộn tiền từ việc bán vé đậu xe và bán các món ăn nhẹ dân dã như bắp nướng, bánh bao, khô mực… bởi bất cứ đoàn khách du lịch nào đến Jeju cũng ghé đến đây.

Seongeup là một bảo tàng sống về nhà cửa và cuộc sống của người dân Jeju thời kỳ trước, ở đây vẫn còn nguyên xi những nếp nhà lợp rơm, vại nước mưa được hứng từ trên cây bằng những bện rơm vàng óng, chiếc cầu tiêu đặc thù với con heo đen luẩn quẩn bên chiếc chuồng rộng phía dưới bảo vệ con người khỏi bị rắn tấn công, những lu nước địu trên lưng và cả chiếc nôi của trẻ con, được thiết kế rất tiện dụng cho mẹ chúng có thể vừa ru chúng ngủ vừa làm được những công việc khác…

Tiếp theo là đỉnh Seongsan nằm ở phía Đông Bắc cuối đảo, vốn là miệng núi lửa đã phun trào lần cuối cùng cách đây 100.000 năm. Đường lên đỉnh núi rất đẹp với những thảm cỏ trải rộng ngay sát bờ biển. Nhưng vốn không thích độ cao lắm nên tôi chọn con đường rẽ xuống biển, tôi muốn thăm những người phụ nữ lặn biển - các nàng tiên cá của Jeju... Có lẽ họ là những người phụ nữ lặn biển cuối cùng của Jeju, bởi phụ nữ trẻ ngày nay không ai mưu sinh bằng cái nghề nguy hiểm này nữa. Chẳng biết là nên buồn hay nên vui

H: Nữ thợ lặn (hình chỉ có tính minh họa).

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

Lặn giúp giảm căng thẳng và khởi động các động lực bảo vệ cơ thể

(Theo Tiếng nói nước Nga, trích dịch)

Các nhà khoa học St Petersburg, Nga, qua nhiều năm nghiên cứu các động vật có vú biết lặn, đã đi tới kết luận rằng, ngụp lặn trong nước lạnh giúp giảm bớt căng thẳng và khởi động các động lực bảo vệ cơ thể. Họ quan sát rái cá, hải ly, chuột nước và hàng loạt động vật có vú biết bơi lặn khác. Giống với con người, khi đắm mình trong nước lạnh, các động vật cũng chịu hàng loạt tác động cực đoan. Nhờ giai đoạn tiến hóa dài, chúng đã tôi luyện cho bản thân cơ chế bảo vệ hệ thống tim mạch.

Khi lặn vào nước, các động vật chuyển sang chế độ tiêu thụ tiết kiệm oxy, nhịp tim đập chậm lại và lưu lượng máu tuần hoàn cũng giảm. Cơ thể tái phân phối máu từ các chi đổ về những cơ quan không thể thiếu oxy là tim và não. Quá trình ngược lại diễn ra khi động vật bơi ngoi lên bề mặt nước: máu rút bớt khỏi não và tim, phân bổ đều khắp các cơ quan của cơ thể.

Cơ chế điều tiết này cũng có ở con người (nhưng đã bị con người lãng quên khi trở thành “động vật trên cạn”), gọi là “phản xạ lặn”. Các bác sĩ ghi nhận trong quá trình ngụp lặn, tần số nhịp tim sẽ giảm –có thể tới một nửa, hay nói cách khác tức là hiệu quả hô hấp tăng, hay nói cách khác “đánh thức phản xạ lặn”. Ngoài ra, phản xạ lặn kích hoạt cơ chế bảo vệ chống căng thẳng và hạn chế tiết ra quá nhiều Adrenaline dẫn tới làm suy nhược cơ thể. Tất nhiên trước khi tập lặn, bạn nên tham khảo ý kiến ​​bác sĩ, đặc biệt là xác định chế độ và tần số lặn. (Tần số: số lần phải tác động trong một khoảng thời gian xác định).

Với những người không có điều kiện đi lặn thì, đơn giản hơn, có thể ngâm mặt trong nước lạnh nhằm giúp giải phóng khỏi chuyện nhịp tim đập nhanh, xóa căng thẳng và nâng sức miễn dịch. Phương pháp này hỗ trợ những người bệnh bị hạn chế tập luyện thể dục.