Danh sách các tab/trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn 7-RESCUE CỨU HỘ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 7-RESCUE CỨU HỘ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2019

Tạo thêm lớp cách nhiệt trong bộ đồ lặn


(sưu tầm)
Viện Công nghệ Masachusetts (MIT) đã tìm ra một giải pháp đơn giản: thiết kế bộ đồ lặn (drysuit) với lớp “mỡ nhân tạo” dày, mô phỏng bộ da của hải cẩu và gấu bắc cực. Thử nghiệm cho thấy lớp "mỡ nhân tạo" có thể kéo dài thời gian bơi trong nước lạnh (dưới 10 độ C) đến ba giờ.
Nhóm nghiên cứu tạo ra bộ đồ bằng cách đặt một bộ đồ lặn bằng cao su xốp bình thường (neoprene) trong một nồi hấp chứa đầy khí (gas) nặng (như argon, krypton hoặc xenon) trong một đến ba ngày. 
Gas sẽ lấp đầy các khoảng trống trong cao su, làm cho  vào khiến cao su neoprene có độ dẫn nhiệt cực thấp. Thiết kế này không chỉ giúp người mặt giữ ấm mà còn loại bỏ máy bơm nước nóng vốn là thiết bị không thể thiếu trong các bộ đồ lặn giữ nhiệt hiện hành, từ đó giúp tránh nguy cơ bị thoát nhiệt rất nhanh nếu bị rách hoặc hư máy bơm.
MIT đã phát triển bộ đồ lặn này với sự giúp đỡ của Hải quân Hoa Kỳ nhằm giúp các binh sĩ thực hiện nhiệm vụ an toàn hơn ở vùng khí hậu Bắc Cực hoặc mùa đông. Ngoài ra phát minh cũng sẽ hữu ích cho việc sửa chữa dưới đáy biển, vận động viên bơi lội đường dài và thậm chí cả người lướt sóng.

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2018

Cứu hộ ở hang Tham luang-hai nạn nhân cuối cùng-P2

Bị lạc đường (lược dịch)

... Ngoài nhóm Mallinson, thợ lặn Anh Chris Jewell cũng tham gia giải cứu một trong hai boy cuối cùng rời khỏi hang Tham Luang. Trong quá trình giải cứu, Jewell (hình như chỉ có 1 thợ lặn trong nhóm này - NST) cũng gặp sự cố bất ngờ.
Do hang tối và địa hình hiểm trở, thợ lặn phải lần theo dây dẫn đường trong hang ngập nước. Một tay họ bám vào sợi dây này trong khi tay còn lại kéo boy.
Trong quá trình lặn, Jewell đã bị tuột tay khỏi dây và hoàn toàn mất phương hướng trong bóng tối. Sau một lúc Jewell  tìm thấy một đoạn dây cáp với hy vọng có thể dẫn anh đi về phía trước. Tuy nhiên, sợi dây này rốt cuộc lại đưa Jewell về phía cuối hang (có lẽ là một ngách hang khác - NST).

Sau khi nhận ra bị mất phương hướng, Jewell nổi lên mặt nước và đặt boy mà anh đang giải cứu lên một mỏm đá. “Tôi đã nổi lên ở một phần khác trong hang và tôi thực sự không biết là tôi đang ở đâu trong vài phút”.  

Sau khi hoàn thành công việc, hai thợ lặn Mallinson và Harris quay lại và đến được chỗ Jewell. Họ hỗ trợ Jewell đưa boy ra ngoài. Bác sĩ Harris đi trước và Jewell đã theo sau. Cuối cùng tất cả đều ra đến cửa hang an toàn ...

Cứu hộ ở hang Tham luang - hai nạn nhân cuối cùng-P1

P1. Mặt nạn lặn trùm mặt không vừa nạn nhân (lược dịch)


... Khi Harris (bác sỹ) và Mallinson (thợ lặn Anh) tìm cách đặt mặt nạ thở vào mặt của nạn nhân cuối cùng (boy) , anh phát hiện ra rằng nó quá nhỏ (*) so với gương mặt của boy: “Chúng tôi đặt nó lên mặt boy, siết chặt đến mức mũi của boy bị bẹt ra nhưng vẫn còn một khoảng hở dưới cằm, không thể che kín mặt được”.
Họ lo sợ rằng boy sẽ bị chết đuối nếu đeo mặt nạ không vừa với mặt. Mallinson không biết làm cách nào để liên lạc với đội cứu hộ bên ngoài để mang chiếc khác vừa vặn hơn vào.

Hai thợ lặn quyết định sử dụng một mặt nạ khác (mà họ có) với hy vọng có thể ra khỏi hang an toàn: “Chúng tôi biết không còn nhiều thời gian và chúng tôi hiểu đây là lựa chọn cuối cùng. Một khi đã quyết định đưa boy ra ngoài, thì đó là hành trình chỉ có một chiều. Bạn không thể đưa chúng trở lại nơi xuất phát - đó là cách đưa boy ra ngoài - chỉ có sống hoặc chết”.

Anh rất lo lắng trong quá trình đưa nạn nhân cuối cùng này đi qua các ngóc ngách vì chiếc mặt nạ thay thế có thể dễ dàng tuột ra ngoài nếu nó bị va vào đâu đó. Tầm nhìn ở trong hang gần như bằng 0 khiến họ không thể nhìn rõ cơ thể boy trong lúc kéo chúng đi. Mallinson đã sử dụng chính cơ thể mình làm lá chắn cho boy: “Tôi đã lấy đầu của tôi che cho đầu của boy. Đầu của tôi sẽ va vào đá trước và cách làm đó sẽ giúp bảo vệ đầu của boy”. Đầu của anh đã va đập hàng chục lần nhưng anh vẫn phải duy trì tốc độ di chuyển ra khỏi hang để đảm bảo nạn nhân không bị hạ thân nhiệt...

(*) Lời góp của NST: nếu mặt nạ "quá nhỏ..." thì boy này có thể là anh HLV đội bóng, nếu mặt nạ "quá lớn..." thì boy này có thể là nhí 11 tuổi. NST xin tham dự cuộc phỏng đoán - vì bài phỏng vấn, biết đâu đấy, có thể bị chút lỗi.

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018

Tại sao con người dễ bị chết đuối


(theo báo Trí thức trẻ, trích đăng)

Một điểm khác biệt của loài người so với các loài động vật chính là việc chúng ta biết suy nghĩ. Nhưng cũng vì quá thông minh nên con người khó lòng hành động theo bản năng, và đôi lúc điều này khiến chúng ta gặp bất lợi, đặc biệt là khi bơi lội.

Con người muốn bơi được phải qua rèn luyện, và điều đó thực ra không hề khó. Tuy nhiên, chỉ biết bơi là không đủ! Bạn cần phải biết rằng nước là một thế giới không dành cho con người, qua đó tập cho mình tính cẩn trọng hơn mỗi khi bước vào một môi trường nguy hiểm.

1,2 triệu người mỗi năm. Đó là số nạn nhân chết đuối mỗi năm trên toàn cầu, tương đương mỗi phút có hơn 2 người chết vì đuối nước.
Nếu tính cả số người “suýt chết đuối” – những người đuối nước nhưng được cứu – thì con số sẽ cao hơn từ 8 đến 10 lần (trong đó có khoảng 50% trường hợp là trẻ em0, thậm chí 1/4 trong số này là những người biết bơi.

Ai dễ chết đuối?

Trong một nghiên cứu do ILF (Liên đoàn cứu hộ quốc tế) thực hiện, đã thu thập số liệu từ hơn 1.000 trường hợp chết đuối, cùng trên 10.000 vụ tai nạn đuối nước. Kết quả, nạn nhân phân bổ chủ yếu vào 3 nhóm tuổi sau: Nhóm 0 – 5 tuổi, Nhóm 20 – 25 tuổi, Nhóm trên 60 tuổi.

Các trường hợp trẻ em dưới 5 tuổi gặp tai nạn đuối nước thường do sự bất cẩn của người lớn, và chúng xảy ra ngay cả khi đang ở nhà.
Còn với nhóm người già, lý do được đưa ra là họ bị hạn chế khả năng ứng biến khi gặp tình huống khẩn cấp, hoặc tình trạng sức khỏe bất ngờ giảm sút khi đang bơi.
Tuy nhiên ở các nhóm tuổi khác, có xu hướng cho thấy số nạn nhân là nam giới nhiều hơn – có thể là vì nam giới thường thích các môn thể thao mạo hiểm. Họ có xu hướng liều lĩnh hơn vì quá tự tin vào khả năng của bản thân.

Đáng chú ý, có một lượng nạn nhân bị chết đuối do cứu người khác. Thậm chí người ta còn đặt hẳn một hội chứng cho hiện tượng này: Aquatic victim instead of rescuer syndrome (AVIR - tạm dịch: hội chứng người cứu nạn trở thành nạn nhân đuối nước).
Theo như số liệu từ Úc, giai đoạn 2002 - 2007, có khoảng 27 nạn nhân bị chết đuối khi cố gắng giải cứu người bị đuối nước.
Nguyên nhân chủ yếu là do các nạn nhân này không quen thuộc về vùng nước đó, lại quá tự tin về khả năng bơi lội của bản thân. Trong khi đó, để cứu người thì ngoài kỹ năng bơi lội, họ cần có dụng cụ cứu hộ, biết được hướng tiếp cận nạn nhân, và quan trọng là có người trợ giúp ở trên bờ.

Thời điểm, địa điểm dễ gây chết đuối


Thống kê cho thấy, các vụ đuối nước xảy ra gần như mọi thời điểm, nhưng chủ yếu xảy ra vào các buổi chiều tối mùa hè – thời điểm nhà nhà đổ ra hồ ra biển hóng mát. Ngoài ra, chiều tối cũng là lúc con người mệt mỏi hơn, dễ đưa ra những quyết định liều lĩnh và thiếu đi sự sáng suốt.

Về địa điểm, tai nạn đuối nước có thể xảy ra ở bất cứ đâu – kể cả ở nhà. Tuy nhiên, đa phần diễn ra tại các vùng nước mở như sông, biển, hồ, ao, những nơi không có cứu hộ hoặc người có đủ chuyên môn theo dõi.

Bên cạnh đó, số liệu cũng cho thấy, rất nhiều trường hợp bị chết đuối trong khi nạn nhân thậm chí còn chẳng có ý định xuống nước, như tai nạn du thuyền chẳng hạn. Đó cũng chính là lý do vì sao tất cả phải tuân thủ mọi quy trình an toàn trước khi di chuyển bằng tàu thuyền, trong đó quan trọng nhất là mặc áo phao.

Nhưng cũng đừng vì vậy mà sợ nước


Rất nhiều người chết đuối, nhưng cũng cần biết rằng có hàng trăm ngàn trường hợp đuối nước được cứu mỗi năm. Ngoài ra, số lượng người bơi lội ngày càng nhiều, nhưng tỉ lệ chết đuối chưa lúc nào tăng lên.
Điều này có nghĩa rằng chỉ cần nắm được quy trình an toàn và luyện tập đúng cách, chúng ta hoàn toàn có thể ngăn chặn được thảm họa xảy ra.

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

Tai nạn bờ biển. P2 - Nạn nhân bị Ngộp nước có vẻ không giống như Ngộp nước

(Bài của bạn Mario – mariovittone.com, trích dịch)

Bài báo có đoạn: … Vị Captain bơi gấp. Ông bơi gấp, mắt dõi về hướng của một kẻ nào đó trong một nhóm người đang vui đùa dưới biển.  Một người đàn ông trong nhóm quay lại nói với vợ anh ta: “Anh biết ông ta nghĩ rằng em đang bị ngộp nước và sắp bị chìm, ha ha”. Những người trong nhóm vẫn vui đùa, tạt nước tung tóe. Bà vợ la lên giọng đầy khó chịu: “Tôi không sao cả, ông định làm gì vậy ?”. Người chồng cũng la hét, khua tay ra hiệu không sao, nhưng vị Captain lại bơi nhanh hơn. “Tránh ra !”  Ông ta hét lên và bơi lướt qua đám người đang vui đùa chừng hơn 10 feet. Cô con gái 9 tuổi của cặp vợ chồng này đang bị ngộp nước. Cô bé đã được an toàn trong cánh tay của vị Captain. Cô bé bật khóc tức tưởi “Ba ơi”...

Làm thế nào mà vị Captain trong bài báo trên biết cô bé đang bị ngộp nước – từ một vị trí cách xa trên 15 mét – trong khi người cha của cô bé chỉ cách chưa đầy 1 mét lại không hay biết ? 

Người đang ngộp nước không có dấu hiệu dãy dụa mãnh liệt làm cho nước tung toét lên, hoăc kêu gọi cầu cứu – như theo sự hiểu biết của mọi người.  Vị Captain này đã được huấn luyện cùng với nhiều năm kinh nghiệm để nhận diện những nạn nhân đang bị ngộp nước (ông vốn là nhân viên cứu hộ). Trong khi đó kiến thức của người cha về hình ảnh người bị ngộp nước chỉ là qua màn hình nhỏ.  

Nếu bạn cùng một nhóm bạn ở gần nhau trong khu vực nước mở (tôi nghĩ sẽ đúng cho tất cả mọi người), bạn hãy để ý tới những người xung quanh. Hãy đừng chờ tới khi bé gái bật khóc tức tưởi “ba ơi” – mà trước đó bé gái không thể nào cất tiếng cầu cứu được.

Tôi (tác giả) không ngạc nhiên về câu chuyện trên vì tôi từng là một nhân viên cứu hộ bơi lội bờ biển. Thông thường chúng ta rất dễ hiểu lầm về sự âm thầm của nạn nhân khi họ đang bị ngộp nước: Chúng ta cứ tưởng nạn nhân sẽ phải vùng vẫy tay chân, nước bắn lên tung tóe và la hét hoảng sợ (y như diễn xuất của các diễn viên màn ảnh) và cho đó là dấu hiệu để chúng ta nhận biết, nhưng thực sự điều đó hầu như không xảy ra trong thực tế.

Trong các trường hợp đuối nước, người bị ngộp nước cố tránh khỏi bị ngộp thở trong nước, nhưng hầu hết họ không vẫy tay, không la hét, và ít khi thấy nước văng lên tung toé. Để có một khái niệm về nạn nhân đang trong tình trạng ngộp  nước trong âm thầm và không thể hiện sự hoảng hốt của họ, quí vị hãy để ý một thống kê sau: Số trẻ em tuổi 15 trở xuống (của Quốc gia chúng ta) bị chết đuối chiếm hàng thứ nhì (chỉ sau tai nạn giao thông đường bộ), và theo một dự đoán, có khoảng 750 trẻ em (sẽ) bị chết đuối trong năm tới, 375 trẻ em (sẽ) chết đuối trong khoảng cách 25 yards cách vị trí của cha mẹ hoặc người lớn đi kèm trẻ em đó. Khoảng chừng 10% trong số trẻ em (sẽ) bị chết đuối ngay trước mắt người lớn đi kèm mà người lớn đó không hề hay biết. 

“Nạn nhân bị ngộp nước nhưng có vẻ không giống như bị ngộp nước” có sự phản ứng như sau:
Ngoại trừ trường hợp hiếm hoi, nạn nhân bị ngộp nước không thể kêu cứu được bằng những động tác cụ thể. Bởi sự hô hấp được sáng tạo qua hơi thở, kế đó là phát âm (tiếng nói) qua hơi thở.  Sự hô hấp phải được thực hiện trước khi âm thanh được phát âm.

Do miệng của nạn nhân bị chìm dưới mặt nước, và khi miệng nhô được lên mặt nước lần nữa, thì do miệng của họ không thể ở lại lâu trên mặt nước, để vừa hít thở sau đó lại vừa la hét cầu cứu: Khi miệng của nạn nhân lên khỏi mặt nước, họ lập tức hít thở, và ngay lúc đó, miệng của họ lại chìm dưới mặt nước thêm lần nữa.

Nạn nhân không có khả năng vẫy tay ra hiệu. Theo bản năng tự nhiên, nạn nhân sẽ đưa tay lên ngang rồi đẩy xuống, mục đích để nâng đỡ cơ thể và miệng lên khỏi mặt nước, để cố hít thở không khí. Do vậy sẽ không kịp vẫy tay ra hiệu.
Thông qua “Phản Ứng Tự Nhiên Của Nạn Nhân Bị Ngộp Nước”, nạn nhân không thể nào tự điều khiển được tay chân: Thông thường khi nạn nhân đang gặp khó khăn trên mặt nước, họ không thể nào ngăn chặn được cơ thể của họ đang bị chìm dưới mặt nước, và họ cũng không thể nào điều khiển tay chân như: vẫy tay, kêu cầu cứu, di chuyển về phía bờ hoặc về phía nhân viên cứu hộ, thậm chí không thể điều khiển được tay chân để với lấy phao cứu hộ.

Nạn nhân (trong bài viết) vẫn đứng thẳng dưới nước nhưng không có vật gì để trợ giúp, ngoại trừ việc nạn nhân đã thoát hiểm bởi một người có hiểu biết về cấp cứu bơi lội: Những người bị ngộp nước chỉ có thể vùng vẫy trên mặt nước độ chừng 20 tới 60 giây trước khi bị chìm nghỉm.

Nhưng … không có nghĩa là một người đang gào thét và vùng vẫy tay chây loạn xạ là kẻ không gặp rắc rối – nạn nhân này đang trong tình trạng khủng hoảng. Không như sự phản ứng của tình huống kể trên, sự hoảng sợ về nước của người bị ngộp nước sẽ thoáng qua rất nhanh, và cũng không giống như nạn nhân kể trên, nạn nhân này vẫn có thể tự thoát hiểm. Họ sẽ chụp ngay lấy phao cứu hộ, thậm chí sợi dây phao cứu hộ. Với nhóm này, bạn hãy chú ý một số trong các dấu hiệu sau:

-Đầu thấp dưới mặt nước, miệng ngang mặt nước.
-Đầu ngửa ra sau và miệng mở rộng.
-Mắt ướt và mất thần, không làm chủ được mình.
-Mắt nhắm nghiền.
-Tóc phủ xõa mặt.
-Người đứng thẳng, không dùng chân đạp nước.
-Hơi thở nhanh và dồn dập.
-Cố gắng bơi theo một hướng nhưng cơ thể không thể di chuyển được.
-Cố gắng xoay để nằm ngửa trên mặt nước.
-Đạp chân như đạp xe đạp nhưng cơ thể không nổi trên mặt nước.

Nếu trường hợp một người rớt khỏi bong tàu, thoáng qua mọi chuyện trông có vẻ bình thường – nhưng bạn đừng có vội tìn tưởng như vậy.  Đôi khi dấu hiệu của một người đang bị ngộp nước lại không có vẻ gì đang bị ngộp nước. Nạn nhân trông có vẻ như đang đập tay chân trong nước và mắt hướng về bong tàu.  Có một cách kiểm tra là bạn lên tiếng hỏi nạn nhân: “Bạn có bị gì không?”. Nếu họ trả lời thì có thể họ không hề hấn gì.  Còn nếu nhân “trả lời” bằng cặp mắt đờ đẫn, ngay lập tức bạn phải giúp nạn nhân trong vòng dưới 30 giây.


Và tôi xin lưu ý với các bậc phụ huynh: Trẻ em đang chơi trong nước một cách ồn ào, bỗng đột nhiên nó yên lặng, thì bạn phải lập tức đến ngay nó và tìm hiểu lý do tại sao.

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Tai nạn bờ biển. P1 - Phao cứu hộ phi truyền thống tại các bãi tắm

Đợt này báo chí đưa nhiều tin về tai nạn chết đuối và sự yếu kém của cứu hộ tại các bãi tắm biển ở Việt nam, trong đó nhấn mạnh việc các nhân viên cứu hộ (CHV) chưa chuyên nghiệp và trang, thiết bị thiếu thốn.

Với số tiền quá ít ỏi đầu tư cho đội cứu hộ, chúng ta không hi vọng CHV có mô tô nước (Jetski), phao cứu hộ tự hành điều khiển từ xa, phao cứu hộ bắn đi từ ống phóng, mà người ta đành chấp nhận rằng CHV chỉ cần có mỗi cái áo phao và phao tròn. Trong bài này, chúng ta hãy tạm cho là CHV đã được huấn luyện chuyên nghiệp và chuyên tâm, để nói về trang bị cứu hộ.

Khi phát hiện người bị đuối nước, CHV cần nhanh chóng tiếp cận nạn nhân, vì chỉ chậm nửa phút thôi là có thể … hết cứu. Theo quy trình, CHV sẽ mặc áo phao hoặc ôm phao tròn, rồi bơi tới nạn nhân. Áo phao hoặc phao tròn sẽ dành cho nạn nhân nhưng cũng để đề phòng CHV bị đuối nước (biết đâu đấy, sóng to, dòng chảy mạnh khó lường).
Nhưng, rất tiếc, trong kỹ thuật bơi lội, để bơi được nhanh và bền, thì cơ thể (“cái body”) của CHV phải chìm, nhưng mặc áo phao hay ôm phao sẽ làm cơ thể CHV nổi lều bều, làm cho anh ta bơi bị chậm lại, rất chậm. Vậy có loại phao nào giúp CHV bơi chìm không? Còn nếu CHV cột sợi dây thừng quanh bụng để kéo theo chiếc phao tròn thì phao này sẽ cản nước rất dữ, vậy phải làm sao?

Phao của CHV là một kiểu túi hình dạng trái ngư lôi, bên trong lèn “hạt xốp”, có sợi đai nối giữa phao và “đai quàng chéo vai”. CHV quàng đai chéo qua vai rồi bơi đi, kéo theo chiếc phao – xem như phao không ảnh hưởng gì tới anh ta. Khi tới nơi, CHV dúi phao cho nạn nhân. Chắc chắn nạn nhân sẽ ôm cứng ngắc chiếc phao, và CHV chỉ việc “thong dong” bơi vào, lôi theo chiếc phao cùng nạn nhân.
Chưa hết, khi nạn nhân đã ôm được phao và “ổn định tư tưởng” (hoặc nếu nạn nhân bất tỉnh), CHV sẽ cuộn chiếc phao vòng quanh ngực nạn nhân rồi dán hai đầu lại với nhau, thế là phao ngư lôi trở thành phao tròn “truyền thống”.
Chắc chắn đơn giá của phao ngư lôi không cao hơn phao tròn hay áo phao “truyền thống” (chưa cộng tiền sợi đai).


Vậy đấy, trong cùng một hoàn cảnh như nhau, người ta vẫn cứu nạn tốt hơn chúng ta, chỉ vì người ta chịu suy nghĩ.

Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014

Về đuối nước ở trẻ em (P2)

(Theo American Academy of Pediatrics, trích dịch)

Trong 10 tiểu bang Alaska, Arizona, California, Florida, Hawaii, Montana, Nevada, Oregon, Utah và Washington - đuối nước vượt qua tất cả các nguyên nhân khác gây tử vong cho trẻ em 14 tuổi và dưới. Trẻ em tử vong (86%) được tìm thấy sau 10 phút. Gần như tất cả các yêu cầu hồi sức tim phổi (CPR) chết hoặc là trái với chấn thương não nghiêm trọng (CDC).
Năm 2000, đã có 3.482 chết đuối không chủ ý ở Hoa Kỳ, trung bình của chín người mỗi ngày (Mỹ,  Trung tâm Kiểm soát và Phòng bệnh).

Người ta ước tính rằng đối với mỗi cái chết đuối nước, có 1 đến 4 bị chìm ngập nonfatal đủ nghiêm trọng để phải nhập viện. Trẻ em vẫn còn yêu cầu hồi sức tim phổi (CPR) tại thời điểm họ đến phòng cấp cứu có một tiên lượng xấu, có ít nhất một nửa số người sống sót bị suy giảm đáng kể đau đầu.

19% chết đuối ca tử vong liên quan đến trẻ em xảy ra trong các bể bơi công cộng với các nhân viên cứu hộ được chứng nhận hiện nay.

Trẻ em: Năm 2004, tất cả trẻ em 1-4 năm tuổi đã chết, 26% chết do đuối nước (CDC 2006). Mặc dù tỷ lệ đuối nước đã dần dần bị từ chối (Branche 1999), đuối nước gây tử vong vẫn là nguyên nhân đứng hàng thứ hai của cái chết liên quan đến thương tích không chủ ý cho trẻ em tuổi từ 1 đến 14 năm (CDC 2005).

Số liệu của Anh (năm 2007):
  • 27 trẻ em dưới mười lăm tuổi đã bị chết đuối (Anh và xứ Wales: 21, Scotland: 6, Bắc Ai-len: 0)
  • 2 trong số này trẻ em dưới một tuổi, 12 giữa các năm và bốn, 3 từ năm đến chín, và 10 người là 10-14 tuổi.
  • Những nơi mà các tai nạn này xảy ra là phản ánh giai đoạn phát triển của trẻ em và nơi mà họ dành thời gian của họ
  • Trong nhóm tuổi trẻ hơn, nơi phổ biến nhất mà trẻ em đang bị chết đuối là trong nhà hoặc khu vườn, bao gồm cả bồn tắm.
  • Trẻ lớn hơn có nhiều khả năng bị chết đuối trong khi chơi bên ngoài nhà.

Cũng như rất nhiều những trường hợp tử vong “gần chết đuối” xảy ra mỗi năm, 8/2007 tại Anh và xứ Wales, khoảng 170 trẻ em dưới 15 tuổi được đưa tới bệnh viện sau khi gần chết đuối. Không có gì đáng ngạc nhiên khi hầu hết các chết đuối không chủ ý xảy ra trong những tháng mùa hè. Bị gần chết đuối có thể có hậu quả lâu dài, dẫn đến tàn tật vĩnh viễn và các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho nạn nhân, thậm chí có thể ảnh hưởng xấu về thần kinh đối tới đứa con sau này của chúng.

(Hình không liên quan bài viết)

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Về đuối nước ở trẻ em

“Đuối nước” (chết đuối) là sự chết ngạt do ngạt thở, gây ra bằng cách nước vào phổi và ngăn chặn sự hấp thụ oxy, dẫn đến máu não thiếu oxy.

Đặc điểm của đuối nước là nhanh chóng và im lặng. Người chết đuối không thể la hét, kêu gọi giúp đỡ, hoặc tìm kiếm sự chú ý, vì họ không có đủ khí thở. Phản ứng theo bản năng chết đuối sẽ là phản ứng tự nhiên trong 20 - 60 giây trước khi chìm hẳn (với người không biết bơi). Vì thế, nhân viên cứu hộ cần được học để nhận ra những cử động theo bản năng của kẻ đang đuối nước.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đuối nước là nguyên nhân thứ ba trên toàn thế giới đối với những trường hợp tử vong, thương tích không chủ ý, (trong năm 2004 ước tính có 388.000 trường hợp tử vong do đuối nước, không tính trường hợp do thiên tai), với 96 % các ca tử vong xảy ra ở các Quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Đa số người bị chết đuối là nam giới hoặc trẻ vị thành niên.


P1. Báo cáo Thống kê về chết đuối tại Mỹ (theo Infant Swimming Resource):

Chết đuối là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ nhỏ, đã chấm dứt cuộc sống của khoảng 4.000 trẻ em mỗi năm và 12.000 trẻ em khác bị tổn thương não vĩnh viễn. Đuối nước là nguyên nhân đứng hàng thứ hai của cái chết liên quan đến thương tích ở trẻ em dưới 15 tuổi.

Người ta thống kê có 360 trẻ em chết mỗi năm do chết đuối, nhưng vì, 1/ Drowning không phải là tình huống để các bệnh viện thống kê, và 2/ nếu đứa trẻ không bị chết trong vòng 24 giờ đầu tiên của sự cố, thì nó không được liệt kê là chết do đuối nước. Bằng cách này, người ta đã giảm được số lượng tai nạn đuối nước, để các bậc cha mẹ có một cảm giác an toàn giả tạo cho con mình. (Công ty bảo hiểm thông báo có 1.000 trẻ em, còn con số bên y tế lên đến 4.000 trẻ em chết mỗi năm do đuối nước).

Trẻ em dưới 5 tuổi và thanh thiếu niên độ tuổi từ 15-24 có tỷ lệ đuối nước cao nhất.
Hồ bơi có số tai nạn gấp 14 lần so với tai nạn giao thông đường bộ, đã tham gia vào cái chết của trẻ em từ 4 tuổi trở xuống.
Khoảng 5.000 trẻ em độ tuổi dưới 14 phải nhập viện do sự cố liên quan đến chết đuối mỗi năm, với 15 % chết trong bệnh viện và 20 % bị khuyết tật nghiêm trọng, lâu dài về thần kinh.  

Trong các vụ các trẻ mẫu giáo bị chết đuối, thì 70 % là do sự thiếu quan tâm của cha mẹ (một hoặc cả hai người) tại thời điểm đứa trẻ bị đuối nước, và trong đó, 75 % do đứa trẻ bị khuất tầm nhìn của cha/mẹ trong năm phút hoặc ít hơn.

92 % số trẻ em sống sót bởi được phát hiện trong vòng hai phút (sau khi bị chìm). Tuy xã hội đã có nhiều cải thiện, nhưng đuối nước gây tử vong vẫn là nguyên nhân đứng hàng thứ hai của cái chết liên quan đến thương tích không chủ ý cho trẻ em tuổi từ 1-14 (số liệu năm 2005).
Trẻ em độ tuổi từ 1-4 còn có nhiều khả năng bị chết đuối trong bồn tắm nước nóng, spa (và hồ bơi). 
Trẻ em độ tuổi 5-14 thường bị chết đuối trong hồ bơi và vùng nước mở như sông, hồ, đập, kênh mương.

Đối với người dân tộc thiểu số: Từ năm 2000 đến 2004, tỷ lệ đuối nước không chủ ý gây tử vong cho người gốc Phi là 1,3 lần so với người da trắng. Tuy nhiên, trong một nhóm độ tuổi cụ thể, nó thậm chí còn cao hơn: Tỷ lệ đuối nước gây tử vong không chủ ý cho lứa từ 5-14 tuổi người gốc Phi cao gấp 3,2 lần so với người da trắng. Tỷ lệ đuối nước gây tử vong không chủ ý cho người da đỏ và người bản địa Alaska là 1,8 lần so với người da trắng. Tỷ lệ đuối nước gây tử vong không chủ ý cho trẻ em, lứa từ 5-14 năm tuổi, gốc Ấn độ da đỏ, Alaska, cao hơn 2,6 lần so với trẻ em người da trắng. 

Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013

Chủ nhật xanh dưới đáy biển – dưới một góc nhìn

Chủ nhật xanh dưới đáy biển là chuyện đi lượm rác dưới đáy biển, cộng với lời nhắn “hãy cùng nhau giữ gìn môi trường biển xanh, sạch, đẹp”, còn ở đây, tôi xin nói về các cuộc “nghiệm thử” (để chuyện không quá lạt, tôi có bỏ vô chút muối tiêu).

Lượm rác không dễ như … lượm rác:

Rác dưới đáy biển đa phần bị phù sa che lấp, trừ phi chúng bám trên san hô, trên đá tảng. Nếu bạn dùng “công nghệ” lượm rác trên đất liền thì dễ dầu gì gặp chúng. Lúc đầu tôi đi mãi mà chẳng thấy rác đâu. Thế là thế nào? Chắc mình đui nên không thấy? Phải một lúc lâu sau tôi mới thấy rác … để mà lượm.

Lại nữa, khi lôi rác lên khỏi mặt cát, tức thì một màn phù sa bốc lên mịt mù, bạn vội vã lấy tay bịt mũi, may chiếc kính lặn nó chặn lại, chứ không thì … làm thật. Mà phải dòm cho kĩ nhen, kẻo quơ trúng ngạnh của một chú cá “giang hồ” nào đó, nó chích một phát la thấu trời (thấu đáy biển). Lôi miểng sắt, miểng gốm sứ lên coi chừng bị chém tay. Đừng quá tin vào chiếc găng tay bảo hộ lao động mà bạn đang đeo.

Dao thợ lặn cắt lưới:

Gỡ mảnh lưới đánh cá ra khỏi vỉa san hô không đơn giản, dùng dao thợ lặn cũng không dễ dàng gì, bởi nó bó chặt thân san hô, lựa thế cắt hoài không xiết, mà giật mạnh thì … cũng vậy, chưa kể sẽ làm hư san hô. Chà, nếu mình bị mảnh lưới trói lại và neo tuốt dưới đáy biển cho tới khi chai lặn hết khí thì sao nhỉ.

Cuộc lặn “solo”:

Lặn giải trí, bạn đi với Divemaster(*) – một anh chàng “thóc mách”, cứ một chặp lại lục vấn “Chai của bạn còn bao nhiêu khí vậy?”. Đi chặp nữa lại nhăn nhó “Đề nghị dồn đội hình”. Chẳng là khách khứa mải ngắm, mải nghía, đâm ra mỗi anh mỗi nẻo, không gom lại thì dễ bị lạc đường. Tai nạn thường gặp của Divemaster là khách bị lạc nhóm.

Còn đi lượm rác thì khác hẳn, mạnh ai nấy bới, nấy lượm. Bạn cứ việc tới tới mà không hề bị ai ràng buộc. Nó tạo cho bạn cảm giác như đang lặn solo vậy – mặc dù bạn không hề một mình, mặc dù bạn đã thông qua kế hoạch lặn: Nào là không xuống quá 10 mét, nào là đi theo hướng Nam và trở về theo hướng Bắc, nào là bạn hãy tự chọn cho mình một “tổ công tác”, nào là …
 
Trượt độ sâu:

Hình: Tay cầm bầu rượu, nắm nem,
Mải vui quên hết lời em dặn dò.

Nếu đáy biển ở đó có độ sâu bằng với độ sâu trong kế hoạch lặn thì không vấn đề, nhưng nếu bạn đi men theo bình độ và phải canh sao cho đúng với độ sâu trong kế hoạch, thì có thể có chuyện. Men theo bình độ, bạn mải mê tìm rác nên có thể dần dần di chuyển xuống dốc. Đó là trường hợp của “tổ” tôi, cứ đi xuống dần dần và cuối cùng là ở độ sâu 18 mét (quá 10 mét so với kế hoạch). Thế đấy, mải vui quên hết lời em (Divemaster) dặn dò là cần ngó chừng đồng hồ đo độ sâu.

Nửa chai ít hơn nửa chai:

Bạn đang xài chai nhôm 80 foot khối, nạp 200 bar, tức có 2,26 mét khối khí trời được nén vô trỏng. Sau cú lặn, chai còn 100 bar, tức còn phân nửa lượng khí. Cú lặn tiếp theo, với cùng thời gian và độ sâu như chuyến trước, bạn dự kiến sẽ xài nốt 1,13 m3 khí còn lại. Nếu bạn mong muốn cú lặn sau vẫn sẽ y hệt như cú lặn trước, thì có thể sai lầm.

Kết thúc cú lặn, chai của tôi còn 110 bar, chai của Ngọc Anh cũng vậy, chai của anh chàng Định – khá hơn – còn 130 bar. Cú lặn sau, tụi tôi lôi ra xài nốt. Lặn một chập, tôi coi đồng hồ giờ, vẫn còn thời gian để lặn trở lui (so sánh áng chừng với các cú lặn trước) ... Bỗng có kẻ vỗ vai, tôi ngó qua: Ngọc Anh ra hiệu “Con chỉ còn 20 bar khí, con đi lên đây”. Tôi dụi mắt coi đồng hồ khí của tôi “Ồ, chú cũng chỉ còn 20 bar, cùng đi lên nhé”. Tôi ngó quanh, gần đó có một thợ lặn khác. Tôi bơi tới, té ra Định. Tôi ra hiệu “Chú đi lên đây, con có đi lên cho dzui không?”. Hắn xua tay “Chú lên trước đi, con ở lại bới rác, dzui hơn”. 

Tôi và Ngọc Anh đi lên từ độ sâu 18 mét với 20 bar khí, lên chậm rãi đúng như sách đã biểu. Tới bề mặt, hai chú cháu bơm chút khí vào BCD là chai khí dường như vừa hết. 


Đường về tàu xa xôi diệu vợi, mà nằm đây chờ tàu tới rước thì tới Tết Công gô. Được cái, ông chú là “thợ bơi xuất sắc” nên dư sức kéo cô cháu cùng trở về tàu. Lên tàu, Divemaster nói “Tụi con nghiệm hoài rồi, nửa chai sau hết lẹ hơn nửa chai đầu”, còn tôi thì ngắn gọn rằng "nửa chai (sau) ít hơn nửa chai (đầu)".

(*) Xin xem “Tự điển Lanbien” ở trên cùng bên phải trang tin.

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

Cứu hộ lướt ván cứu sinh


(sưu tầm, trích)

Katherine Waterhouse, đội trưởng đội Cứu hộ lướt ván cứu sinh Australia tại Đà nẵng đã 13 năm nay: “Tôi muốn giúp người dân địa phương và người nước ngoài gây dựng phong trào lướt ván cứu sinh tại Đà nẵng, dù nhiều khu vực bãi biển này đã có đội dân phòng giám sát, các khu nghỉ dưỡng cũng triển khai cứu hộ, nhưng vấn đề đảm bảo an toàn bơi lội vẫn cần được cải thiện và hỗ trợ”. 

Cô cho rằng các nhân viên cứu hộ đang làm một công việc tuyệt vời, nhưng số lượng du khách mà họ phải giám sát trên bãi biển quá lớn, trong khi họ thiếu được đào tạo chính thức, “dù người dân miền Trung rất thích tắm biển nhưng phần đa không biết bơi hoặc bơi kém, rất dễ gặp nguy hiểm. Biển Đà nẵng không khác ở Australia nhiều, cũng có nhiều chỗ nước xoáy, dải cát và những rãnh sâu”.

Xây dựng dự án này là một nhóm người Australia, trong đó có Duncan MacLean – “Quản lý chung” của Khu nghỉ dưỡng Furama, Đà nẵng. Khi “Hội cứu sinh Australia” tổ chức “Hội nghị thế giới về việc chết đuối” tại khu nghỉ dưỡng này, ông đã nhận thức được về vấn đề an toàn bãi biển và hình thành ý tưởng thành lập câu lạc bộ lướt ván cứu sinh ở Việt nam. Ông tin rằng dự án này “không chỉ giúp giảm số lượng chết đuối mà còn khuyến khích thanh niên sống tốt hơn, khỏe hơn và có trách nhiệm hơn”.

Lướt ván cứu sinh là một trong các dự án tình nguyện ở châu Á Thái bình dương có sự hợp tác từ Australia. Chương trình hoạt động của tổ chức này dành cho những người từ 18 tới 30 tuổi đã tốt nghiệp đại học hoặc đã có kinh nghiệm làm việc, cho đến những chương trình dành cho người nhiều tuổi hơn hoặc đã nghỉ hưu.

Katherine nói: “Chúng tôi thường nghe các tình nguyện viên chia sẻ rằng họ đã nhận được nhiều hơn những gì họ cho đi khi trở về sau mỗi chuyến tình nguyện ... Họ được mở rộng các kỹ năng, tìm hiểu về giao tiếp liên văn hóa và cách thay đổi cũng như phát triển khi chỉ có rất ít nguồn lực trong tay”.

Công việc của cô là “giáo viên dạy cứu hộ bãi biển”. Sự xuất hiện của giáo viên dạy bơi người nước ngoài không lạ với người địa phương, nhưng chức danh này vẫn là một khái niệm mới mẻ đối với cộng đồng dân cư – những người chưa có nhận thức tốt về an toàn bãi biển. Tuy nhiên, sự quan tâm và ủng hộ của người dân địa phương đối với chương trình này đang ngày một tăng lên.

Katherine biết vẫn còn nhiều trở ngại phải vượt qua, trong đó có việc chờ phê duyệt để dự án này hoạt động như một tổ chức phi lợi nhuận.

H1: Katherine và đội cứu hộ lướt ván cứu sinh ở Đà nẵng.
H2: Lướt ván sóng 12m ở Ha oai (không cứu sinh).

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

Cảm giác sợ hãi bắt nguồn từ đâu?


Cảm giác sợ hãi xảy ra rất thường xuyên ở con người, song nguồn gốc của nó bắt nguồn từ đâu? (theo suckhoedoisong.vn, trích)

 TS.Adam Perkins, chuyên ngành thần kinh học, bệnh viện Maudsley, London, Anh, đã tiến hành các cuộc kiểm tra sự liên quan khi xuất hiện cảm giác sợ hãi với hoạt động của não bộ bằng cách kết hợp quét cộng hưởng từ trường MRI tại vùng não được xác định là nơi kiểm soát sự lo lắng, cảm xúc, tâm trạng của con người. 


Sau 9 tháng tiến hành nghiên cứu trên nhóm người tình nguyện, trong đó chính TS. Perkins cũng là một, nhóm nghiên cứu đã đi đến kết luận: trong não bộ có tồn tại một khu vực được coi là trung tâm của nỗi lo lắng, sợ hãi. Vùng não này nằm ngay trong vùng não trung tâm – hippocampus, bên trong thuỳ thái dương và chính là vùng não có liên quan đến khả năng kiểm soát trí nhớ cũng như khả năng nhận thức của con người. Theo dõi trên màn hình kết quả quét cộng hưởng từ trường cho thấy: bất cứ khi nào, cảm giác sợ hãi xuất hiện, vùng não trung tâm hippocampus lại hoạt động và biểu hiện trên hình ảnh là các vùng phát sáng giống như một đám pháo hoa.
Thông thường, khi cảm giác lo lắng, sợ hãi xuất hiện, con người có xu hướng “cứng đờ” cơ thể. Nó cũng xuất hiện khi phải đối mặt với nhiệm vụ khó khăn. Khoa học gọi hiện tượng này là sự ức chế hành xử (behavioural inhibition) do một vùng thuộc não bộ điều khiển. Điều này lý giải cho việc tại sao một số người trở nên bị “đơ người” khi sợ hãi hoặc khi đối mặt với một nguy hiểm đang hiện hữu, trong khi đó một số khác lại vẫn có khả năng giữ được bình tĩnh để đối mặt với mối đe doạ và xử lý được nó.


Lo lắng, sợ hãi là một hiện tượng phức tạp và rất khó hiểu. Chúng ta vẫn cho rằng cảm giác lo lắng xuất hiện như một biểu hiện tất yếu, một trạng thái tự nhiên của cơ thể, song sự thực là chỉ khi xảy ra hoạt động tích cực ở vùng não kiểm soát trạng thái này, nỗi lo lắng sợ hãi mới diễn ra. Điều này cũng có nghĩa là chỉ cần tác động nhân tạo khiến cho vùng não kiểm soát sự lo lắng hoạt động thì cũng có thể khiến cho một người rơi vào tình trạng lo lắng, sợ hãi. Ngược lại, nếu muốn chấm dứt cảm giác sợ hãi của một người, đơn giản chỉ cần tác động ức chế hoạt động tại vùng não ấy.

Trong thí nghiệm của mình, TS. Perkins đặt ra yêu cầu là phải khiến cho người tham gia thử nghiệm rơi vào trạng thái lo lắng, sợ hãi bằng các tình huống thực tế. Đồng thời với việc diễn ra trạng thái này, máy quét cộng hưởng từ trường fMRI hoạt động ghi lại không chỉ cấu trúc của não bộ, mà còn ghi lại các phản ứng của não và các tế bào thần kinh trong não.
Nghiên cứu của TS. Perkins không chỉ làm rõ nguồn gốc trạng thái lo lắng, sợ hãi của người bệnh, mà còn đem lại một phát hiện mới mẻ, thú vị, đó là, nhìn chung, những người thuận tay phải có xu hướng dễ lo lắng, sợ hãi hơn những người thuận tay trái; phụ nữ có xu hướng xuất hiện trạng thái sợ hãi nhiều hơn và mức độ trầm trọng hơn nam giới.
Theo TS. Perkins, phụ nữ dễ bị cảm giác lo lắng, sợ hãi bởi những đe doạ không chỉ về mặt thể chất mà còn bởi những ám ảnh hay tưởng tượng khác, chẳng hạn như: nỗi sợ đám đông, sợ sự mạo hiểm, sợ bóng tối… Ngoài ra, những người đàn ông có lối sống phóng túng thường là những người ít có biểu hiện lo lắng sợ hãi nhất. Và theo kết quả một điều tra xã hội, thì người già có xu hướng ít bị ảnh hưởng bởi trạng thái lo lắng và sợ hãi hơn so với người trẻ tuổi.
Và một điều đặc biệt nữa, trái với suy nghĩ của nhiều người, rằng cảm giác sợ hãi, lo lắng là không tốt cho sức khoẻ, kết quả nghiên cứu của TS. Perkins lại cho thấy: một chút cảm giác sợ hãi đôi khi lại là rất tốt. Trạng thái này khiến cho mọi người trở nên thận trọng hơn khi đưa ra các quyết định, làm giảm sự hấp tấp, vội vàng vốn là nguyên nhân dẫn tới thất bại trong công việc. Một thử nghiệm với các trò game tạo cảm giác mạnh đã được tiến hành. Những người chơi với tâm lý thận trọng, đề phòng luôn đạt được số điểm cao hơn những người chơi khác. Trong cuộc sống, điều này cũng diễn ra tương tự, những người liều lĩnh, ưa mạo hiểm nói cách khác là những người không biết sợ đôi khi lại làm hỏng việc nhiều hơn.
Kết quả nghiên cứu trên đây của các nhà khoa học giúp mở ra hướng đi mới và những ứng dụng mới trong tương lai. Các thí nghiệm thực tế đã mang lại câu trả lời cho một trong những vấn đề làm đau đầu các nhà khoa học trong nhiều năm qua về nguồn gốc và bản chất của cảm giác sợ hãi, cũng như mối liên quan của trạng thái cảm giác này với hoạt động của não bộ con người.
Và nếu như kết quả từ các hình ảnh quét não có thể được phân tích làm rõ, kết hợp với các dữ liệu thu được trực tiếp từ việc đặt ra các câu hỏi cho người tham gia nghiên cứu, các nhà khoa học hoàn toàn có thể xác định được mức độ sợ hãi của mỗi người. Điều này mở ra hi vọng phát triển các phương pháp trị liệu hoặc các loại thuốc mới giúp điều trị các dạng khủng hoảng thần kinh và căng thẳng do sợ hãi và lo lắng mang lại.

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012

SOS – tín hiệu không có ý nghĩa về mặt “văn phạm”

Nhiều người cho rằng “SOS” có nghĩa là Save Our Souls (hãy cứu rỗi linh hồn chúng tôi), hoặc Save our Ship, hoặc Send out Succour, Save Our Shelby, Shoot Our Ship, Sinking Our Ship, Survivors On Shore, hoặc … Vậy SOS có nghĩa là gì ?

“Mã Morse”: Telegraphers (điện báo) vô tuyến đã được G.Marconi thực hiện trong những năm cuối thế kỷ 19. Điện báo vô tuyến áp dụng mã Morse để chuyển tin, một kiểu viết thư bằng cách “gõ” các nhóm dấu chấm (“.”) và dấu gạch ngang (“-”), trong đó chữ “A” (chữ cái đầu tiên) kí hiệu là một dấu chấm và một dấu gạch ngang (“.” “-”). Tín hiệu “.” đọc là “dih” và “-” đọc là “dah” (Việt nam gọi “.” là “ti” và “-” là “tà”).

“Phát CQ”: Là dạng thông báo một chiều phát lên không trung với mong muốn mọi đài điện báo vô tuyến và truyền thanh trên thế giới thu được, tức từng trạm thu đều nhận được một tin nhắn như nhau. Từ năm 1904, nhiều tàu viễn dương của Anh đã được trang bị thiết bị liên lạc vô tuyến. Công ty Marconi đề nghị sử dụng nhóm chữ “CQD” làm tín hiệu gặp nạn, trong đó chữ “D” bắt nguồn từ nghĩa “đau khổ”, với hàm ý “kêu gọi sự cứu hộ từ mọi nơi”.

Ngày 01/04/1905, tín hiệu SOS lần đầu tiên được giới thiệu ở Đức, như một phần của “hệ thống các quy chuẩn phát thanh quốc gia”. Năm 1906, Hội nghị Radiotelegraphic lần thứ hai ở Berlin đã nhất trí sử dụng tín hiệu “SOS” (mã Morse: “.” “.” “.” “-”“-” “-” “.” “.” “.”) với quan niệm rằng ba chấm (“S”), ba gạch ngang (“O”) và ba chấm (“S”) viết liền sẽ không thể bị hiểu sai. Tín hiệu “SOS” được thông qua bởi nó dễ nhận biết và không thể gây nhầm lẫn ý nghĩa, đồng thời đơn giản hóa cho người “gõ Morse”.
Kể từ đây, “SOS” không còn là cụm từ có ý nghĩa về “văn phạm” mà chỉ là một từ kĩ thuật. Mọi giải thích kiểu như “Save Our Souls” đều trở nên không hợp lệ.

Mặc dù tín hiệu “SOS” được quy định áp dụng vào năm 1908, nhưng việc sử dụng “CQD” vẫn còn nán lại vài năm nữa, đặc biệt là ở nước Anh. Theo lưu trữ của Carpathia SS, tàu Titanic đã phát tín hiệu “CQD” để xin cứu hộ. Sau đó, khi được một hành khách đề nghị, tàu Titanic mới phát thêm tín hiệu “SOS”. Tới lúc đó các đội cứu hộ không phải của nước Anh mới hiểu rằng Titanic đã gặp nạn. Nhưng tới năm 1935 nước Anh mới thay “CQD” bằng “SOS”.

Nước Mỹ sử dụng tín hiệu “SOS” lần đầu tiên vào tháng 8/1909 khi tàu SS Iroquois của họ gặp nạn ở gần Diamond Shoals, nơi được mệnh danh là Nghĩa địa tàu trên Đại Tây Dương. Nhưng tới năm 1912 Mỹ mới chính thức áp dụng tín hiệu này.

Việt nam hồi xưa đánh trống ngũ liên (5 tiếng tùng, tức “.” “.” “.” “.” “.”) và trong hai cuộc kháng chiến gần đây thì gõ kẻng ba tiếng một (keeeng - keng keng, tức “-” “.” “.”) - một tín hiệu báo động đơn giản, không gây nhầm lẫn và rất thúc dục.
Hình: mã sê-ma-pho được sử dụng phổ biến trên các tàu biển hồi TK20.

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

Về lực lượng cứu hộ của chúng ta




Chuyện về những người dũng cảm nhưng thiếu thốn (thợ lặn trục vớt chiếc xe buýt bị đắm vào ngày 18/10/2010 ở sông Lam Hà tĩnh).
(theo số liệu báo chí - trích).

Ngày 20/10. Đã xác định được vị trí chiếc xe buýt, cách điểm đắm 1 km. Thợ lặn cho biết dưới đáy sông (12-15 m) nước lạnh buốt, đục ngầu, chảy xiết.

Một thợ lặn tâm sự “sông Lam nước lũ khủng khiếp lắm, nhiều thợ lặn lành nghề cũng phải sợ. Với tôi, lúc này mong muốn đưa thi thể của nạn nhân lên bờ nhanh nhất. Sinh nghề tử nghiệp mà”. Một thợ lặn khác nói “hồi đó, có chiếc tàu gặp lốc xoáy bị nhấn chìm dưới biển sâu 35m. Chúng tôi mất gần tháng trời mới trục vớt xong con tàu. Tuy nhiên, trục vớt tàu ở biển không nguy hiểm như ở sông. Đặc biệt là lũ sông Lam chảy xiết, quá mạnh”.

9h. Hai tàu và hai xà lan chia thành hai nhóm tiếp cận vị trí chiếc xe. Các thợ lặn ngậm vòi thở và mang theo dây cáp, sẵn sàng lặn.
9h15. Thợ lăn ngoi lên mặt nước cho biết xe khách nằm ngang sông, họ sẽ móc dây cáp vào xe để chuẩn bị kéo lên.
9h50. Thợ lặn ngoi lên mặt nước cho biết, việc cột dây cáp rất khó khăn do nước xiết. Tốt nhất là cột vào bánh xe, nhưng cả 8 bánh đều bị vùi sâu trong cát. Lực lượng trục vớt hội ý tìm cách cột khác.
Tiếp tục lặn. Sau 10 phút, thợ lặn báo đã cột được 1 cáp vào bánh xe. Nhưng sau nhiều lần lặn tiếp theo, đội cứu hộ quyết định chờ tới sáng 21/10 mới có thể trục vớt. Họ tiến hành neo cố định chiếc xe khách dưới đáy sông.

Ngày 21/10. 12h06 chiếc xe đã được kéo lên tới mặt nước.

Chỉ huy đội thợ lặn cho biết, đồ nghề của họ khá đầy đủ, nhưng không phải lúc nào cũng có thể sử dụng được. Ông nói “trong điều kiện nước sông chảy quá xiết, nếu mang bình khí nén và mặc quần áo thì sẽ bị nước cuốn trôi. Chúng tôi chỉ mặc quần đùi, khi lặn xuống thì cởi quần, cột chặt vào dây cáp rồi mới tiếp cận được chiếc xe. Khi ngoi lên lại mặc quần vào”.

Là một "dân làng lặn”, tôi vô cùng khâm phục sự dũng cảm của thợ lặn ở sông Lam, nhưng cũng đầy băn khoăn: Chẳng lẽ chúng ta, một Quốc gia có diện tích bờ biển và sông ngòi rất lớn, còn lũ lụt lại rất “phong phú” – theo “định mức” của xứ nhiệt đới gió mùa, lại không thể sắm cho thợ lặn kĩ thuật những phương tiện hiện đại hơn cái mà họ đang có (nếu quả thực họ có) hay sao?

Nhớ lại vụ tàu ngầm Kursk (K-141) của Nga bị đắm ngày 12/08/2000, nếu Cứu hộ Nga có các phương tiện cứu hộ đặc chủng thì nhiều người trong số 118 thủy thủy đã được cứu sống. Bộ phương tiện cứu hộ đó tuy rất đắt (ngang giá 1 trái tên lửa hành trình) nhưng vẫn rẻ nếu so đo với tính mạng con người (kẻ bị nạn và người cứu hộ). Về góc độ đầu tư, thay vì “sắm” 100 trái tên lửa hành trình, thì anh sắm 99 trái và 1 bộ phương tiện cứu hộ đặc chủng?!