Danh sách các tab/trang

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

Kỹ thuật bơi sải – So sánh giữa Sun Yang và Katie Ledecky (P2-P3)



3. Một nhịp điệu tuyệt vời của Sun Yang.

Dưới đây là
bảng phân tích của Sun Yang trong mỗi 50 m của cuộc đua 1.500 m. Bạn chú ý nhịp độ bơi tăng cho đến khi kết thúc nước rút – tính cho 100 m cuối cùng, với phân đoạn 50 m một (chúng chỉ lệch nhau một vài phần mười của một giây): vì số liệu này đi quá sâu vào kỹ xảo nên chúng tôi tạm không đăng, trừ phi bạn đọc yêu cầu.


Đạt tốc độ cao là một cái gì đó mà tất cả những người bơi lội không ưu tú bị thiếu. Lúc đầu bạn có thể bơi được rất nhanh nhưng về tổng thể bạn sẽ tới đích chậm hơn người ta.
Một cách để giúp bạn
cải thiện nhịp điệu của bạn là thiết lập một Tempo Trainer Pro với ấn định thời điểm bạn buộc phải chạm đích.  
 

Các lời góp cho bài viết nói trên (P3).


VĐV 1 – Nhận xét về bàn tay nhập nước (hand entry) của Katie Ledecky:  

Katie Ledecky đã gây sốc cho thế giới để giành chiến thắng vàng 800m tại Thế vận hội London ở tuổi 15 và bây giờ
là bốn huy chương vàng tại giải vô địch thế giới (400m/800m/1500m/4x200m) chỉ một năm sau đó. Cô là siêu sao mới lên của bơi cự li dài.

Cô
ấy bắt nước và kéo nước thật tuyệt vời, và có thể nói kỹ thuật stroke của cô ấy là hoàn hảo chăng ? Không hoàn toàn như vậy, ngón tay cái của cô nhập nước trước – tức lòng bàn tay quay ra phía ngoài – sẽ tạo ra một áp lực xoắn lên vai cô, có thể động tác này sẽ mang lại một sự cải thiện về tốc độ, nhưng sẽ có thể bị chấn thương vai trong những năm tới. Nếu bạn bị đau vai khi bơi, việc đầu tiên xem xét là có phải bàn tay bạn nhập nước với ngón tay cái hay không !

VĐV 2 – Bơi vùng nước mở (Races Open Water)

Bơi marathon cự li 10 km là trận chiến kinh điển giữa các Swinger về tương quan trong kỹ năng bơi sải. Giải nam, Spyridon Gianniotis về nhất, Thomas Lurz về nhì, ta thấy tốc độ của cả hai chừng 92–95 SPM (strokes/phút) trong suốt cuộc đua, Oussama Mellouli thứ ba với 68–70 SPM. Giải nữ, Poliona Okimoto Cintra về nhất, Ana Marcela Cunha nhì, tốc độ của cả hai chừng 90–95 SPM. Kết quả bơi đã nổi lên một thực tế, là những VĐV stroke nhanh có xu hướng nổi trội hơn trong vùng nước mở. Rằng nhịp điệu punchy nhanh hơn giúp họ bơi hiệu quả hơn trong vùng nước bị sóng xáo trộn.

Tại một giải vô địch
thế giới cụ thể nào đó, chúng ta thấy nhiều phong cách stroke khác nhau. Tương ứng với chiều cao của mình, mỗi VĐV sẽ chọn một phong cách stroke khác nhau. Điều này cho thấy rằng, không có một phong cách nào là lý tưởng cho tất cả. Khi bạn luyện bơi nâng cao, bạn cố gắng không để rơi vào cái bẫy – cho rằng mình cần phải bơi với một phong cách bất di bất dịch (một kỹ thuật lý tưởng), bởi phong cách mà bạn đang áp dụng có thể là phong cách không phù hợp với bạn. Thay vào đó, trong từng chi tiết nhỏ, bạn hãy tự cảm nhận để cải thiện, như cải thiện kỹ thuật thở, kỹ thuật stroke, cải thiện về vị trí cơ thể trong nước (sự thuôn dòng), kỹ thuật bắt nước, kéo nước và hồi phục, ...




VĐV 3 – Bạn hãy xem thông số Bơi sải cự li 800m, 1500m

Winner
Nữ 800m : Katie Ledecky (USA), 16 tuổi
Chiều cao 1.78m
38 Strokes mỗi Length / 81 Strokes Per Minute
(SPM)
Khoảng cách giữa
(Gap between strokes)* Bên trái: 0,00 giây , Right: 0,00 giây
Thời gian : 8:13.86 (61.7s/100m)

Loại bơi : Smooth
Nữ 800m : Lotte Friis (Đan Mạch), 25 tuổi.
Chiều cao 1.84m
44 Strokes mỗi Length / 95 Strokes Per Minute
Khoảng cách giữa * Bên trái: -0.12 giây, Right: -0.12 giây
Thời gian : 8:16.32 (62.0s/100m)

Winner Nam 1500m : Sun Yang (Trung Quốc), 21 tuổi.
Chiều cao 1.98m
28 Strokes mỗi Length / 60 Strokes Per Minute
Khoảng cách giữa *
: Trái : 0.16 , phải : 0.22
Khoảng cách giữa * (nước rút về đích) : Trái : 0.00 , phải : -0.12 (85 SPM)
Thời gian : 14:41.15 (58.7s/100m)

Smooth Nam 1500 : Ryan Cochrane (Canada), 24 tuổi.
Chiều cao 1.93m
36 Strokes mỗi Length / 82 Strokes Per Minute
Khoảng cách giữa *
: Trái : 0.00 , phải : 0.00
Khoảng cách giữa * (nước rút về đích) : Trái : -0.12 , phải: -0.08 (99 SPM)
Thời gian : 14:42.48 (58.8s/100m)

*  Là khoảng thời gian giữa các cú stroke đã hoàn thiện ở phía sau và bắt đầu tiếp theo ở phía trước – con số trung bình trong một số stroke tiêu biểu được hiển thị trên video (the time gap between the stroke finishing at the rear and the next starting).
- Ghi chú: VĐV có chiều cao sẽ có xu hướng giảm tần số strokes - so với VĐV thấp.

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

Kỹ thuật bơi sải – So sánh giữa Sun Yang và Katie Ledecky (P1)

(Bài trên feelforthewater.com, trích dịch)  

Trong bài này, chúng tôi (tác giả) đối chiếu một số động tác nổi bật trong kỹ thuật quạt tay (stroke) và chiến thuật bơi sải cự ly 800 mét và 1.500 mét Nữ của vận động viên (VĐV) Sun Yang (Trung quốc) và VĐV Katie Ledecky (Mỹ).

Cả Yang và Ledecky
đều thuộc type bơi vươn duỗi và êm dịu (long smooth) với 6 kick (6 quạt chân trong 1 chu kì, tức 6 kich 2 stroke) mạnh mẽ trong toàn bộ cuộc đua. Đáng chú ý là cả hai VĐV đều kick vẩy gót, đã tiết kiệm được khá nhiều sức lực của họ. Đó chính là một kỹ năng smooth. Biến thể kỹ năng smooth cũng được áp dụng trong bơi đua cự li ngắn, và có xu hướng chiếm ưu thế khi bơi nước rút khi gần về tới đích. Đáng chú ý là trong những kẻ sử dụng kỹ thuật “bơi nước rút nhưng vẫn êm dịu” có các danh thủ Alexander Popov, Ian Thorpe, Michael Phelps.

Kỹ thuật smooth của họ cũng là một cách lý tưởng để bơi sải đường dài đối với những Swinger không nổi tiếng. Điều thú vị là đối thủ của Yang và Ledecky lại là VĐV Ryan Cochrane và VĐV Lotte Friis – cả hai đều sử dụng phong cách punchier ngắn hơn trong cú stroke. Đặc biệt Friis ủng hộ phong cách hồi xưa là phục hồi (Back stroke) với cánh tay thẳng trên mặt nước.

Mặc dù
cả hai có lợi thế về chiều cao (Friis: 1.84m, Ledecky: 1.78m) nhưng Friis đã quạt 44 stroke cho mỗi 50 m và Ledecky là 38 stroke. Friis có cú stroke ngắn, quạt ​​với 95 stroke trong mỗi phút (95 SPM – Strokes Per Minute) nhanh hơn so với 81 SPM của Ledecky. Đó là một sự khác biệt lớn giữa hai VĐV. Rõ ràng  là cú stroke dài không nhất thiết là tốt hơn so với cú stroke ngắn. Mỗi VĐV sẽ tìm kiếm cho mình một phong cách stroke riêng. Nếu Friis cố gắng bơi với phong cách stroke của Ledecky hoặc ngược lại, thì kết quả sẽ chỉ làm cho mỗi họ bơi bị chậm hơn.

Nếu bạn có Tempo Trainer Pro (kế hoạch về tiến độ luyện tập) của mình, bạn hãy thử nghiệm cả hai phong cách stroke (Ledecky: 81 SPM, Friis: 95 SPM) trên quãng đường 25 m. Tốc độ 95 SPM rõ ràng là rất nhanh, còn 81 SPM thì … cũng không khác là bao (đối với bạn – một Swinger không nổi tiếng). Bí quyết để Ledecky có tốc độ cao là cú stroke thực sự vươn duỗi nhưng nhanh chóng.

Tiếp theo, tác giả phân tích chiến thuật của Yang và Ledecky để thắng Cochrane và Friis, trong đua cự li 800 mét và 1.500 mét, về tiểu xảo “lấn lướt” VĐV bơi ở luồng kế bên.

Nếu bạn đã luyện được kiểu bơi êm dịu thì sẽ thấy được ở đây một bài học về chiến thuật, đặc biệt là nếu bạn đang luyện bơi vùng nước mở hoặc ba môn phối hợp, có thể bạn sẽ cảm thấy một sự cám dỗ mạnh mẽ để hi vọng vượt lên đầu đoàn đua. Bạn có thể học hỏi những gì từ những VĐV tuyệt vời? Tôi muốn nêu lên ba điều quan trọng :

1. Không
nên glide từ Katie Ledecky:

Nghiên cứu
cú stroke của Ledecky, bạn có thể thấy như thế nào là stroke. Cô thực hiện những cú strokes mạnh mẽ ngay lúc bắt đầu và lúc về đích. Katie thì lướt đi với cú strokes siêu êm dịu, đẩy cô đi rất mượt mà và không bị gián đoạn.

Quan điểm cho rằng kỹ thuật bơi tuyệt vời nghĩa là “lướt đi không chút gián đoạn” là quan niệm sai lầm lớn nhất trong luyện bơi – một cái gì đó mà chúng tôi sẵn sàng xua tan khi áp dụng bơi smooth, xem như nó là một ý tưởng làm hại kỹ thuật stroke cho nhiều VĐV và hạn chế thành tích của họ.

2. Một kỹ năng của của Sun Yang là bắt nước và kéo nước mạnh mẽ trong tất cả các cú stroke:

Ở cấp độ đơn giản nhất, lực đẩy trong bơi lội là tạo phản lực về phía sau để bạn được đẩy về phía trước. Sun Yang đã làm như ở trên. Còn bạn, bạn không nên tìm cách xoay cánh tay theo một vòng tròn lớn như cái guồng quạt nước, mà tay bạn hãy nhập nước và duỗi thẳng về phía trước, rồi quạt cho đến khi kết thúc chu kì stroke.
(còn nữa)