Danh sách các tab/trang

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

Bàn luận về chân nhái thợ lặn (P2)

P2-1. Chân nhái vây ngắn và chân nhái vây dài (bài của thợ lặn thứ ba, trích)

Chân nhái vây ngắn:
Chân nhái vây ngắn là một thiết kế cổ điển. Turtle khá dày. Chúng khá nặng. Được sử dụng với các cú quạt cắt kéo (frog kich), chân nhái ngắn làm việc tốt cho lặn kỹ thuật, cho kỹ thuật quay vòng và lùi. Một cú frog kich đơn giản với kiểu chân nhái ngắn sẽ làm thợ di chuyển lặn nhanh chóng. Mẫu này đơn giản nhưng hiệu quả, mà hầu hết các nhà sản xuất thiết bị lặn đều cung cấp một số phiên bản của chân cá, chân rùa, và nhiều mẫu thiết kế vẫn không thay đổi trong nhiều thập kỷ. Thợ lặn xác tàu đắm, hang động thích chúng bởi vì chúng cung cấp lực đẩy lớn, nhưng đủ ngắn để tránh va chạm vào vách, trần trong các khu vực nhỏ hẹp.

Chân nhái vây dài:
Chân nhái Freediving có lẽ là phong cách phổ biến nhất của cánh thợ lặn giải trí. Freediving đặc trưng bởi lưỡi rất dài, mỏng. Thường được thiết kế cho lặn vo, nhưng các chân nhái này cũng có hiệu quả nếu dùng cho lặn Scuba. Với độ dài khá dài, chân nhái freediving có thể giúp thợ lặn di chuyển nhanh chóng và cung cấp lực đẩy mạnh mẽ.

Nhà sản xuất ScubaPro và Aqualung đã sáng tạo thêm một số mẫu chân nhái. Một số chân nhái kết hợp các yếu tố cao su có thêm một snap để vẫy và có thể làm tăng hiệu quả cú quạt nước. Các Nova ScubaPro có hình dạng lạ lùng, được thiết kế để hi vọng giảm bớt nỗ lực và động lực đẩy trong cả hai cách bơi truyền thống và frog kich.

Màu sắc:
Màu của chân nhái không chỉ đơn thuần mang tính thẩm mỹ. Trong quá trình lặn, chân nhái có màu sáng sẽ dễ nhìn thấy và có thể được sử dụng để xác định một cá nhân. Những người lặn trong tầm nhìn thấp thích chân nhái có màu sắc tươi sáng, sẽ dễ dàng phân biệt hơn so với màu đen hoặc màu tinh tế khác.

P2-2. Chân nhái xẻ  (bài của thợ lặn thứ tư, trích)

Về cơ bản, chân nhái xẻ (xẻ dọc ở phần vây) làm việc cũng như chân nhái truyền thống. Nhưng khi bạn quạt xuống, do lực cản của nước, chân nhái sẽ sẽ mở ra thành hình chữ V tại khe xẻ. Phần dưới của chân nhái chịu áp lực cao hơn, buộc nước phải đi lên qua khe xẻ. Áp lực phía bên trên của chân nhái thấp hơn, sẽ tạo dòng xoáy, và thợ lặn được đẩy về phía trước. Kết quả là bạn lướt qua nước với nỗ lực ít hơn.

Tác động của khe xẻ không nhiều. Hầu hết những người lần đầu xài chân nhái này nói rằng, họ không nghĩ khe xẻ có tác dụng. Cách kiểm tra hay nhất là tổ chức một cuộc bơi đua dưới mặt nước, và tôi chọn chân nhái truyền thống còn bạn sử dụng chân nhái xẻ.

Để chân nhái xẻ hoạt động hiệu quả, bạn phải sửa đổi chút ít về cách quạt nước của bạn. Cách mà mà bạn được học với chân nhái truyền thống sẽ không làm việc tốt với chân nhái xẻ. Bạn sẽ thấy rằng, bạn sẽ nhận được một tác động tốt hơn nếu bạn quạt ngắn hơn, nhanh hơn. Quạt “đá giữ” ngắn hơn cũng làm giảm lực cản và sẽ tăng tốc độ, với lực vẫy được bớt đi.

Cuộc thử nghiệm cho thấy, dùng chúng giảm được 20% lượng khí thở so với sử dụng chân nhái truyền thống. Theo kinh nghiệm của tôi, tôi nghĩ rằng họ nói có thể đúng. Tuy nhiên, nếu lặn xác tàu đắm hoặc hang động, tôi sẽ chọn loại chân nhái khác. Bởi khi đó  thợ lặn thường áp dụng lối vẫy đặc biệt gọi là “cắt kéo”. Tôi thấy rằng chân nhái xẻ không thật hiệu quả với lối “cắt kéo” này.

Bảo quản chân nhái:

Tôi biết bạn có nhiều thiết bị để chăm sóc và tôi biết bạn đang mệt mỏi sau khi lặn, nhưng nếu bạn đầu tư, chỉ một chút thời gian thôi, bạn có thể làm tăng tuổi thọ của các thiết bị của bạn.

Nước mặn: Sau khi lặn, điều đầu tiên bạn cần làm là rửa fins với nước ngọt, điều này rất quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo trì. Ngay cả sau khi lặn vùng nước ngọt, bạn cũng nên rửa, bởi khoáng chất và tảo có thể bám vào chúng, cũng gây tàn phá như nước muối. Bạn hãy rửa fins ngay khi có thể, tốt nhất là rửa trước khi chúng bị khô. Khi nước mặn bắt đầu khô, tinh thể muối sẽ hình thành trên fins đẹp đẽ của bạn, và từ từ nhưng chắc chắn, bắt đầu làm hư fins. Lúc đầu bạn có thể không nhận thấy bất cứ điều gì, nhưng sau một số lần lặn, fins sẽ trở nên giòn, dễ gẫy, và bắt đầu bị sai lệch (y như bạn quấn nhiều vòng dây thừng vào fins vậy).

Ánh sáng mặt trời: Mặt trời và nhiệt độ cao có thể phá hoại fins hơn cả nước mặn. Bạn đã từng để xe hơi thường xuyên giữa trời nắng chưa. Điều tương tự có thể xảy ra với fins của bạn. Liên tục tiếp xúc với ánh nắng sẽ làm cho fins dần dần biến dạng, nhất là sự toàn vẹn của cạnh bên. Nếu đã rửa sạch, bạn có thể để chúng trong nhà và sẽ không có bất kỳ vấn đề gì.

Lưu trữ: Hãy chắc chắn bạn không cất giữ fins trên mặt đất hoặc để chúng bị bẻ cong. Khi bạn bỏ fins vào túi, hãy giữ ổn định những vật bạn đưa vào để chèn fins. Hãy chắc chắn là bình khí, hoặc bất cứ thứ gì nặng không đè trên fins. Nếu bạn chăm sóc fins đúng cách, hi vọng bạn có thể dùng chúng trong 20 năm. Còn nếu không, bạn có thể phải ói ra 150 USD vào đầu năm mới. 

Hình (không liên quan bài viết): Tôi biết bạn có nhiều thiết bị để chăm sóc và tôi biết bạn đang mệt mỏi...

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Bàn luận về chân nhái thợ lặn (P1)

P1-1. Chọn chân nhái trong siêu thị bán đồ thể thao dưới nước (bài của thợ lặn thứ nhất, trích)

Có hai nhóm chân nhái. Nhóm 1 ôm hết bàn chân, giống như chiếc giày và bạn mua chúng dựa trên kích thước bàn chân bạn. Chúng phổ biến cho bơi, snorkelers. Và nhóm 2 mở gót chân với quai gót, là sự lựa chọn phổ biến cho lặn scuba – có kích thước nhỏ, vừa, lớn, rất lớn, và quai gót chân thường là điều chỉnh được và xoay được.

Vào siêu thị, bạn sẽ hoa mắt với một "rừng" chân nhái. Chúng gồm những chân nhái “tiêu chuẩn”, chân nhái “phản lực cơ”, chân nhái xẻ, chân nhái “quân lực” và chân nhái theo những “khái niệm mới”...

Chân nhái quân lực (Force) ngắn hơn, nặng hơn và sử dụng khó khăn hơn so với chân nhái thông dụng. Chúng có lỗ thông hơi. Tôi (tác giả) thường sử dụng chúng khi chui vào xác tàu hay hang động ngầm vì chúng ngắn, vì vậy ít có khả năng khấy đục phù sa. Chân nhái Force trông giống như chân con vịt và có tác dụng tốt khi kick.

Chân nhái xẻ (xẻ dọc ở giữa). Người ta cho rằng dòng chảy thông qua khe xẻ sẽ bị tác động như vây cá. Tôi sử dụng nó phần lớn cho thời gian lặn thư giãn.

Có những loại chân nhái cung cấp thêm một sự hỗ trợ khi lặn dòng chảy mạnh.

Vậy bạn chọn chân nhái nào? Nếu bạn đã lặn nhiều lần, thì theo tôi, sử dụng chân nhái “phản lực cơ” sẽ phù hợp với loại hình lặn xác tàu đắm. Chân nhái xỏ như chiếc giày sẽ phù hợp trong vùng nước ấm, còn bơi với ống thở thì chọn ..v..v..

Sự thoải mái: Bí quyết ở đây là có được Booties lặn đối với chân nhái mở gót. Nếu bạn cảm thấy thoải mái và phù hợp với snuggly bên trong phần chứa bàn chân của chân nhái, không chặt, là đạt. Một số cửa hàng có cho khách lặn thử nghiệm. Hãy nhớ rằng, nếu không cảm thấy thoải mái, bạn sẽ có khả năng bị giọp bẻ (chuột rút) hoặc sẽ bị khốn khổ khi ở dưới nước.

Chọn chân nhái cần phù hợp với cỡ chân. Chân nhái ôm chặt bàn chân có thể bị chuột rút khi lặn, còn lỏng sẽ làm bạn bị mất lực.

P1-2. Các loại chân nhái lặn thông dụng (bài của thợ lặn thứ hai, trích)

Chân nhái mái chèo được thiết kế để bảo tồn năng lượng quạt nước của thợ lặn. Chúng có gân (footpockets) rất cứng, nhằm để tối đa hóa sự chuyển giao lực quạt nước từ chân thợ lặn vào chân nhái.


Chân nhái Split. Một số chân nhái có sự kết thúc của rãnh xẻ. Các nhà sản xuất tuyên bố rằng chân nhái xẻ hoạt động tương tự như một cánh quạt nhằm tạo lực xoáy để di chuyển về phía trước: nước chảy qua phần trung tâm của chân nhái sẽ tạo ra một lực xoáy. Tuy nhiên, một nghiên cứu năm 2003 của Pendergast lại nói rằng không có thay đổi đáng kể trong hoạt động của chúng.


Chân nhái Paddle. Là loại chân nhái cứng, cấu trúc đơn giản, bằng composite hoặc cao su. Một số chân nhái có các rãnh chạy dọc để cải thiện sức mạnh và hiệu quả, mặc dù chúng đã được chỉ ra rằng hiệu quả mong muốn thường không xảy ra. Chân nhái Paddle rộng bản được cho là hiệu quả nhất, sẽ cải thiện được tốc độ bơi ở người khỏe chân. Vì vậy người chân yếu nên sử dụng loại chân nhái “linh hoạt” (chân nhái xẻ) sẽ hợp lí hơn.


Chân nhái Jet. Phong cách của chân nhái này mạnh mẽ, được thợ lặn kỹ thuật ủng hộ bởi chúng đạt hiệu quả cao khi vẫy, nhưng phải hy sinh cho tốc độ tiêu thụ oxy.


Chân nhái có lỗ thông nước thường gặp ở các loại chân nhái mái chèo, cứng, có lỗ thông ở đáy của khoang chứa bàn chân. Các lỗ thông cho phép sự di chuyển của nước trong một cú quạt trả về - nhằm giảm bớt sự tiêu hao sức lực cho thợ lặn. Tuy nhiên, nghiên cứu của Pendergast năm 2003 lại  kết luận rằng lỗ thông hơi này không cải thiện được gì cả, tức là, trong thực tế,  nước đi qua các lỗ thông không đáng kể.


Monofin chỉ sử dụng trong bơi lội (swimming) và lặn vo. Monofin được làm bằng sợi thủy tinh hoặc sợi carbon.


Tùy theo thể trạng cơ thể và phong cách bơi, và loại hình hoạt động cụ thể mà bạn mong muốn, bạn sẽ lựa chọn chân nhái theo kích cỡ, độ cứng và vật liệu thích hợp. Thông qua các lần thử nghiệm, bạn sẽ biết là bạn cần loại nào và dành cho loại hình hoạt động nào.

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

Bị tê nhức sau khi lặn

(Lời góp của bạn lặn, trích)

Chuyến đi của Mr.Phil, bạn tôi (tác giả bài viết), tại Hawaii là một loạt các cuộc họp, và anh được một phần thưởng bất ngờ, đó là cuộc họp đã kết thúc hai ngày sớm hơn dự kiến – anh sẽ có hai ngày để đi lặn. Phil là thợ lặn giải trí với bảy năm “trong nghề”, trung bình khoảng 20 cú lặn một năm.

Phil làm bốn cú lặn trong ngày thứ nhất, một ngày tuyệt đẹp. Về khách sạn, anh thư giãn bên hồ bơi và lên mạng. Rồi anh làm vài lon bia với bữa tối của mình, để tự thưởng về một chuyến đi thành công, và đi ngủ, mệt mỏi nhưng sung sướng.

Ngày cuối cùng ở Hawaii, Phil cảm thấy mệt mỏi. Tối đó anh cố gắng có được giấc ngủ. Sáng hôm sau thức dậy, anh cảm thấy đau nhức và tê ở vai và khuỷu tay. Gần 30 giờ sau cú lặn cuối cùng, Phil lên máy bay, anh vẫn còn cảm thấy một chút mệt mỏi. Máy bay bay ở độ cao 5.000 mét trên mực nước biển.

Về tới nhà, trong bốn ngày sau đó, Phil vẫn cảm thấy mệt mỏi. Ban đầu anh nghĩ rằng anh bị cảm lạnh trên chuyến bay. Sau sáu ngày trôi qua kể từ khi các triệu chứng bắt đầu, Phil đi gặp bác sĩ về Y học lặn và Hyperbaric. Phil phàn nàn mình bị đau vai, khuỷu tay và cổ tay ; cảm thấy có một cơn đau âm ỉ trong cơ ngực ; bị ngứa ran và tê ở cánh tay phải. Trong quá trình kiểm tra, bác sĩ còn thấy rằng Phil bị suy giảm trí nhớ tạm thời và bị giảm khả năng tập trung. Phil được cấp cứu ban đầu tại buồng hyperbaric của Hải quân Mỹ, sau đó chuyển viện điều trị theo tuyến.

Trường hợp này là một minh họa về các triệu chứng nhẹ có liên quan tới “bệnh thợ lặn”(*), có thể dễ bị nhầm lẫn với những chấn thương và các bệnh khác. Các triệu chứng của “bệnh thợ lặn” thường bắt đầu trong vòng sáu giờ sau khi nổi lên bề mặt. Đi máy bay sau 24 giờ kể từ cú nổi lên cuối cùng thường là an toàn, nhưng đôi khi triệu chứng này có thể xuất hiện sau một khoảng thời gian dài hơn. Trong trường hợp của Phil, một số triệu chứng đã xuất hiện trước khi lên máy bay. Áp suất giảm trên máy bay đã tăng thêm sự chênh lệnh áp lực trong cơ thể của Phil, đã kích hoạt bọt nito (còn sót lại) trong máu và kích hoạt các triệu chứng của “bệnh thợ lặn”.



May mắn là Phil đã được giải quyết kịp thời và triệt để. Phil đã trở lại với môn lặn nhưng thận trọng hơn – anh quyết định tăng thêm thời gian nghỉ giữa các cú lặn và trước khi lên máy bay.

Hình vui: Luật là luật, bạn phải tuân thủ kể cả khi bạn ở  dưới đáy biển. 

(*) Xin xem tại "Tự điển Lanbien" ở trên cùng bên phải trang tin này.

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2014

Từ trên tàu biển, làm sao con người có thể nhìn thấy đáy đại dương

Sidescan Sonar là phương pháp thu hình các chi tiết đáy từ sự phản hồi sóng siêu âm. 
Máy định vị Sonar là thiết bị có độ phân giải đủ để thể hiện các hình ảnh cơ bản đáy nước trong tuyến được khảo sát. 
Sidescan Sonar không cung cấp độ cao tuyệt đối của đối tượng, mà là độ cao của vật thể tới đáy, từ đó độ cao của vật thể có thể ước tính.

Máy định vị Sonar trông giống trái tên lửa hoặc con cá, gọi là Towfish. Khi treo cách đáy biển 50 m sẽ có thể nhìn thấy các vật trong vòng chừng 600 m2. Tuy vậy, với Sonar, một xác người trông không khác gì một gò cát trên màn hình. Ngay cả xác tàu đắm cũng khó nhận ra trên màn hình nếu người điều khiển Sonar không được huấn luyện. Khi phát hiện một vật bất thường ở đáy biển, người ta hạ Sonar xuống vài mét để có hình ảnh rõ hơn.

Sidescan Sonar gồm thiết bị ghi, một cảm biến chìm trong nước, nối với nhau bằng cáp tín hiệu. Sidescan Sonar là thiết bị ghi, nạp tín hiệu cho Towfish – phần thiết bị kéo ngầm dưới nước. Lệnh từ thiết bị ghi truyền đến đầu phát (Transducer).

Đầu phát xung siêu âm sẽ phát sóng (xung) thẳng xuống đáy biển. Sau khoảng thời gian cực ngắn, sóng siêu âm phản xạ lại từ đáy nước dội trở về máy thu, được khuếch đại và truyền về thiết bị ghi. Thiết bị ghi xử lý tín hiệu, số hóa và tính toán vị trí tương ứng trong bản ghi (từng pixel một), rồi truyền số liệu này vào thiết bị ghi lưu. Số liệu thu được cho phép tính toán số liệu hiệu chỉnh độ xiên để tạo ra hình ảnh phẳng, và có thể ghép thành một vùng rộng của đáy được khảo sát.

Chiều cao và tốc độ kéo thiết bị: 
Chất lượng của số liệu là một hàm số của chiều cao Towfish so với đáy hoặc đối tượng dưới đáy. Với cấu hình tiêu chuẩn, việc khảo sát được tiến hành với Towfish ở cao độ so với đáy từ 8-20% phạm vi đo. Nếu kéo Towfish cao hơn thì vùng khuất sẽ giảm và việc nhận biết địa vật cũng giảm. Nếu kéo Towfish thấp hơn sẽ giảm hiệu quả của tín hiệu ở vùng biên. Tốc độ kéo sẽ điều chỉnh sao cho mỗi địa vật được sóng siêu âm phản xạ 3 lần.

Hình ảnh về đối tượng được khảo sát: 
Độ chính xác (khả năng nhận biết kích thước địa vật đáy) phụ thuộc và nhiều yếu tố: kích thước và hình dạng của địa vật, dạng vật liệu và độ phản xạ, tạp âm, nhiễu, và mức độ ổn định của Towfish. Một vùng khuất phía trước với tín hiệu phản xạ mạnh cho biết có chỗ lõm lớn. Một vùng khuất ở phía sau với tín hiệu phản xạ mạnh cho biết có sự nhô lên đột ngột của đáy.

Tính toán chiều cao của địa vật: 
Chiều cao của địa vật có thể ước tính từ bóng che của nó. Độ phản xạ của sóng siêu âm là một hàm của kích thước địa vật, hình dạng, hướng so với Towfish, và kết cấu của nó. Thép và đá phản xạ tốt nhất. Sợi thủy tinh, gỗ, chất dẻo, cao su phản xạ yếu.

Xác định vị trí của địa vật: 
Để xác lập vị trí một cách chính xác, trước hết phải có vị trí chính xác của tàu khảo sát, rồi nạp vị trí này cho Towfish. Vị trí đầu phát (Transducer) là điểm gốc của hệ tọa độ được sử dụng trên tàu. Hướng về trước và ra sau là hướng chính, khoảng cách vuông góc với hướng chính từ Towfish tới mạn tàu gọi là offset. Thông thường, hướng chính là dương khi ở phía sau, và offset là dương khi ở bên phải mạn tàu. Vị trí của Transducer được tính tại anten của GPS (phương pháp hình học). Khi vị trí của Towfish được xác định thì ta sẽ tính được vị trí của địa vật. Đại lượng offset (trong bộ ghi của Sonar) sẽ có giá trị dương đối với mạn phải và âm đối với mạn trái. Khi biết giá trị offset của Towfish so với tàu khảo sát thì sẽ tính được vị trí của địa vật.

Thứ Hai, 12 tháng 5, 2014

Một người có tên là HQ-11

(Theo baodatviet.vn, trích)

Tàu HQ-11, lữ đoàn 171, Hải quân NDVN, trong khi đang làm nhiệm vụ ở đảo Đá Lớn đã cứu sống 3 phi công Mỹ.

Ngày 10/7/1988, khi bay từ Singapore đến căn cứ Hải quân Subic, Philippine, một máy bay thuộc Đoàn bay CT-39-NALO192, Hải quân Mỹ, gặp thời tiết xấu không hạ cánh được. Họ bèn vòng ra biển thì gặp nạn.

Thủy thủ tàu HQ-11 kể lại: 11g15 ngày 10/7/1988, có tiếng máy bay vận tải quân sự gầm rú phía đông đảo Đá Lớn và vài phút sau, chiếc máy bay vụt tới, nghiêng cánh xin hạ cánh. Nhưng ngay sau đó chiếc máy bay đã đâm nhào xuống biển. Một luồng sóng trắng xoá, rồi một chiếc thuyền phao hiện lên, trên đó có ba người. HQ-11 thả hai xuồng cứu sinh. Hai chiếc xuồng nhỏ xíu chồm lên ngụp xuống như muốn chìm nghỉm trong lòng biển. Thấy thuyền tới, ba nạn nhân mừng rỡ. Một phi công (nữ) ra hiệu “tôi đang có thai”.

Ba nạn nhân lên tàu HQ-11 an toàn. Việc đầu tiên là khám sức khoẻ cho phi công nữ mang thai. Được biết thai trong bụng an toàn, chị đã khóc. Chị là Stein Necker, hai người kia là Richard Kamaurer (cơ trưởng) và Michael Rneel.


Lúc đó HQ-11 làm nhiệm vụ trên biển xa đã 73 ngày, lương thực, thực phẩm, rau xanh, nước ngọt đã cạn. Giữa biển khơi bao la nắng gắt nhưng ba nạn nhân vẫn đủ nước uống, thực phẩm và nước tắm – những thứ có được từ sự nhường nhịn của HQ-11. Anh em đã phải chắt chiu từng cọng rau, từng ca nước uống để giúp đỡ ba kẻ gặp nạn (còn nhịn tắm, thì đối với cánh thủy thủ, là … đương nhiên).

Sau khi liên lạc với Mỹ theo đường ngoại giao, sáng 13/7/1988, ba nạn nhân được tàu HQ-187 đưa về đất liền. Và đứa con (trai) của Stein Necker (sinh ra ở Mỹ) đã được Necker đặt tên là “HQ-11”.

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Bí mật của kỹ thuật quạt tay trong bơi sải (trườn sấp)

(Sưu tầm, trích)

Cải thiện kỹ thuật bơi sải là việc làm khó khăn nhất, nó là một thách thức. Vận động viên (VĐV) phải hiểu các yếu tố vật lý, sinh lý để tập trung vào việc tối thiểu hóa năng lượng bị mất đi trong khi bơi. Khi luyện bơi, nhiều người cứ dốc sức ra quạt nước, với hy vọng rằng bỏ sức nhiều nhất sẽ bơi được nhanh nhất. Bạn sẽ bơi được nhanh hơn một chút, nhưng sẽ kiệt sức rất nhanh, thậm chí bị chấn thương các khớp xương.

Nếu MỤC TIÊU luyện tập của bạn là để bơi được nhanh hơn (và xa hơn), bạn nên tập trung vào các yếu tố kỹ thuật có thể giúp đẩy bạn về phía trước một cách nhanh chóng nhưng không kết thúc bằng kiệt sức. Bạn nên áp dụng một cách hiệu quả.

“Hiệu quả” ở đây có nghĩa là: 1/ kỹ thuật đó thực sự có ích cho bạn, nó chứng minh đó là cách tốt nhất để đẩy bạn tiến về phía trước một cách nhanh chóng, và, 2/ kỹ thuật đó trở thành “bản năng thứ hai” và bạn cần ít nỗ lực nhất để thực hiện nó – bởi MỤC TIÊU của bạn là không muốn lãng phí năng lượng trong khi bơi.

VĐV Sheila Taormina, 4 lần vô địch Olympic về ba môn bơi phối hợp, trong cuốn “Bí mật bơi tốc độ” có nói: Khuỷu tay cao trong giai đoạn hồi phục (back stroke) là một kỹ thuật quan trọng được nhiều VĐV bơi lội Olympic sử dụng thành công.

Nếu bạn đang đọc những dòng này, tôi nghĩ có thể bạn không phải là VĐV đang được đào tạo cho Olympic, nhưng … tại sao bạn không tận dụng tối đa những gì có thể học được từ những người bơi nhanh nhất trong thời đại chúng ta? Tuy mỗi VĐV có phong cách và thế mạnh riêng của mình, nhưng họ đã cung cấp cho chúng ta những điều mới nhất, cộng với tấm gương về sự luyện tập kiên trì. Áp dụng kỹ thuật mới sẽ gặp khó khăn lúc đầu, nhưng khi cơ thể bạn thích nghi, nó sẽ đem lại sự thoải mái cho bạn.  

VĐV Taormina tập trung vào một số yếu tố được sử dụng để đem lại hiệu quả. Chúng ta hãy suy nghĩ lý thuyết về Động lực đẩy. “Đẩy” ở đây chỉ có nghĩa là làm cơ thể tiến về phía trước, và trong bơi sải, giai đoạn phát lực (kéo nước) lại là những gì xảy ra dưới mặt nước: Bàn tay vào nước – vươn duỗi cánh tay về phía trước – bắt nước – ôm nước và xoáy nó quanh cơ thể – rút tay lên khi tới hông. Đấy là những gì sẽ đẩy bạn tiến về phía trước.

Trong thế kỷ trước, người ta tin rằng việc giữ cánh tay thẳng khi quạt nước (stroke) là cách hiệu quả nhất để đẩy cơ thể tiến về phía trước. Tập theo đó, bạn có cảm thấy bạn đang lướt về phía trước một cách nhanh chóng không? Có lẽ là không. Và, khuỷu tay và khớp vai của bạn đang bị gánh nặng của cuộc chiến đấu với nước, vì vậy nếu bạn là VĐV bơi lội (nhưng không phải là VĐV Olympic hàng đầu) thì có thể bạn sẽ bị chấn thương khớp vai.

Tại cửa ngõ thế kỷ 21, lý thuyết về Động lực đẩy cho bơi sải đã thay đổi, và bơi sải đã áp dụng quạt nước theo quỹ đạo chữ S, cánh tay không còn quạt thẳng nữa. Sự thay đổi này tập trung vào việc chế ngự lực cản của nước (chứ không phải để chiến thắng lực cản của nước), hiểu một cách đơn giản là hoạt động của VĐV sẽ hiệu quả hơn nếu giảm được lực của nước “tĩnh” và stroke hình chữ S cho phép VĐV bắt nước tốt hơn và đỡ mất sức hơn. Bắt nước rồi phát lực đúng lúc sẽ làm cơ thể lướt nhanh hơn.
Sử dụng một stroke chữ S với một góc nhìn gần hơn (tức không ngóc đầu) là cách để cơ thể lướt hơn và cuối cùng là được nhanh hơn.

VĐV Taormina nêu cụ thể giai đoạn bắt nước, kéo nước bằng cách so sánh những nét cũ và mới tại freestylers Olympic. Cô cho rằng đa số VĐV sử dụng cánh tay thẳng trong giai đoạn bắt nước – ngay cả khi họ đã áp dụng nguyên lý stroke chữ S trong giai đoạn còn lại và đồng thời đã có gập khuỷu tay – là đã quá muộn để thực sự cảm nhận và bắt nước một cách hiệu quả nhất có thể.

Chúng ta hãy nhìn nhận quan điểm của Taormina trên cơ sở lý thuyết về Động lực đẩy:

Tay Taormina vào nước, vươn duỗi về phía trước với một cánh tay thẳng, và để bắt đầu Armpull. Giai đoạn bắt nước được thực hiện bắt đầu là đưa tay xuống phía dưới, thay vì đưa ngang.

Trong phần còn lại của quạt nước, cánh tay được tạo thành một góc (nên là 110 độ) và quạt xoáy về phía sau làm cho cơ thể VĐV được đẩy về phía trước một cách nhanh chóng hơn. Nhưng có 2 điều cần lưu ý :
- Lúc VĐV (bắt đầu) đưa tay xuống sẽ làm giảm đà lướt.
- Ngay cả với một chữ S trong quạt tay, nhiều VĐV vẫn thực hiện giai đoạn bắt nước với một cánh tay thẳng đẩy xuống dưới. Một lần nữa, bạn lãng phí một cơ hội để di chuyển về phía trước – propel tại điểm trước đó trong thời gian kéo nước của bạn.

Bây giờ, chúng ta hãy xem làm thế nào để khuỷu tay cao khi cánh tay di chuyển trên mặt nước (trong giai đoạn back stroke):

Khuỷu tay của Taormina cao, cẳng tay treo trên đầu cô với bàn tay chúc xuống. Dòng nước chuyển động ngược trở lại tại một điểm sớm hơn nhiều trong cú stroke, có nghĩa là cô ấy nhận được nhiều hơn từ các động lực đẩy cho mỗi cú stroke.

Thay đổi kỹ thuật quạt tay là một cơ hội để bơi nhanh hơn. Trông có vẻ như một sự thay đổi đơn giản, phải không? Có lẽ là không, đặc biệt là nếu bạn đã sử dụng kỹ thuật bắt nước thẳng tay trong nhiều năm. Thậm chí sẽ tồi tệ hơn nếu bạn là một trong những VĐV hạ thấp khuỷu tay khi kéo nước. Ouch! Để tập với một khuỷu tay cao cần có thời gian và sự thực hành, nhưng bạn nên sớm thực hành khi cảm thấy kỹ thuật đó có ích cho bạn. Huấn luyện viên hoặc bạn bơi của bạn sẽ góp ý cho bạn khi quan sát bạn đang sửa đổi – bạn cần tranh thủ các góp ý này. Ngoài ra, các clip quay bạn từ dưới nước cũng là một yếu tố quan trọng trong việc áp dụng kỹ thuật mới – đó là cách duy nhất để bạn thấy được những gì bạn đang thực sự làm – đối với từng nhịp bơi một – và bạn đã hoặc không thành công trong việc áp dụng kỹ thuật.

Điều quan trọng giúp bạn phát lực có hiệu quả là:

1. Bạn cần hiểu về cơ chế của kỹ thuật cao khuỷu tay: Cánh tay có 2 phần (2 tay đòn), tay đòn 1 là từ vai đến khuỷu tay, tay đòn 2 là từ khuỷu tay đến hết bàn tay. Hãy nhìn vị trí tay đòn 1 trong khi tay đòn 2 di chuyển. Tay đòn 1 đi xuống theo bàn tay và tay bắt đầu kéo nước, nhưng khuỷu tay vẫn tiếp tục ở trên cao. Bạn không được hạ khuỷu tay.

2. Cảm nhận: Hãy tưởng tượng bạn muốn bò qua một cái thùng. Bạn không bò qua thùng, mà bạn đang đẩy cái thùng lăn về phía sau bạn.

3. Xoáy, xoáy: Xoay khuỷu tay, khuỷu tay gập, cánh tay kia thả lỏng (cùng với nửa cơ thể bên đó).

4. Tính thích ứng: Bạn sử dụng tất cả các cơ vai, ngực, cổ và cánh tay để stroke và để bắt đúng nhịp lướt của cơ thể bạn.

5. Thời điểm phát lực: Sau khi cánh tay đã vào nước với khuỷu tay cao, bạn bắt đầu phát lực để kéo nước đi qua cơ thể (chứ không phải bạn trườn lên trong nước). Hãy thêm lực vào thời điểm này nữa đi. 


Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Về đuối nước ở trẻ em

“Đuối nước” (chết đuối) là sự chết ngạt do ngạt thở, gây ra bằng cách nước vào phổi và ngăn chặn sự hấp thụ oxy, dẫn đến máu não thiếu oxy.

Đặc điểm của đuối nước là nhanh chóng và im lặng. Người chết đuối không thể la hét, kêu gọi giúp đỡ, hoặc tìm kiếm sự chú ý, vì họ không có đủ khí thở. Phản ứng theo bản năng chết đuối sẽ là phản ứng tự nhiên trong 20 - 60 giây trước khi chìm hẳn (với người không biết bơi). Vì thế, nhân viên cứu hộ cần được học để nhận ra những cử động theo bản năng của kẻ đang đuối nước.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đuối nước là nguyên nhân thứ ba trên toàn thế giới đối với những trường hợp tử vong, thương tích không chủ ý, (trong năm 2004 ước tính có 388.000 trường hợp tử vong do đuối nước, không tính trường hợp do thiên tai), với 96 % các ca tử vong xảy ra ở các Quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Đa số người bị chết đuối là nam giới hoặc trẻ vị thành niên.


P1. Báo cáo Thống kê về chết đuối tại Mỹ (theo Infant Swimming Resource):

Chết đuối là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ nhỏ, đã chấm dứt cuộc sống của khoảng 4.000 trẻ em mỗi năm và 12.000 trẻ em khác bị tổn thương não vĩnh viễn. Đuối nước là nguyên nhân đứng hàng thứ hai của cái chết liên quan đến thương tích ở trẻ em dưới 15 tuổi.

Người ta thống kê có 360 trẻ em chết mỗi năm do chết đuối, nhưng vì, 1/ Drowning không phải là tình huống để các bệnh viện thống kê, và 2/ nếu đứa trẻ không bị chết trong vòng 24 giờ đầu tiên của sự cố, thì nó không được liệt kê là chết do đuối nước. Bằng cách này, người ta đã giảm được số lượng tai nạn đuối nước, để các bậc cha mẹ có một cảm giác an toàn giả tạo cho con mình. (Công ty bảo hiểm thông báo có 1.000 trẻ em, còn con số bên y tế lên đến 4.000 trẻ em chết mỗi năm do đuối nước).

Trẻ em dưới 5 tuổi và thanh thiếu niên độ tuổi từ 15-24 có tỷ lệ đuối nước cao nhất.
Hồ bơi có số tai nạn gấp 14 lần so với tai nạn giao thông đường bộ, đã tham gia vào cái chết của trẻ em từ 4 tuổi trở xuống.
Khoảng 5.000 trẻ em độ tuổi dưới 14 phải nhập viện do sự cố liên quan đến chết đuối mỗi năm, với 15 % chết trong bệnh viện và 20 % bị khuyết tật nghiêm trọng, lâu dài về thần kinh.  

Trong các vụ các trẻ mẫu giáo bị chết đuối, thì 70 % là do sự thiếu quan tâm của cha mẹ (một hoặc cả hai người) tại thời điểm đứa trẻ bị đuối nước, và trong đó, 75 % do đứa trẻ bị khuất tầm nhìn của cha/mẹ trong năm phút hoặc ít hơn.

92 % số trẻ em sống sót bởi được phát hiện trong vòng hai phút (sau khi bị chìm). Tuy xã hội đã có nhiều cải thiện, nhưng đuối nước gây tử vong vẫn là nguyên nhân đứng hàng thứ hai của cái chết liên quan đến thương tích không chủ ý cho trẻ em tuổi từ 1-14 (số liệu năm 2005).
Trẻ em độ tuổi từ 1-4 còn có nhiều khả năng bị chết đuối trong bồn tắm nước nóng, spa (và hồ bơi). 
Trẻ em độ tuổi 5-14 thường bị chết đuối trong hồ bơi và vùng nước mở như sông, hồ, đập, kênh mương.

Đối với người dân tộc thiểu số: Từ năm 2000 đến 2004, tỷ lệ đuối nước không chủ ý gây tử vong cho người gốc Phi là 1,3 lần so với người da trắng. Tuy nhiên, trong một nhóm độ tuổi cụ thể, nó thậm chí còn cao hơn: Tỷ lệ đuối nước gây tử vong không chủ ý cho lứa từ 5-14 tuổi người gốc Phi cao gấp 3,2 lần so với người da trắng. Tỷ lệ đuối nước gây tử vong không chủ ý cho người da đỏ và người bản địa Alaska là 1,8 lần so với người da trắng. Tỷ lệ đuối nước gây tử vong không chủ ý cho trẻ em, lứa từ 5-14 năm tuổi, gốc Ấn độ da đỏ, Alaska, cao hơn 2,6 lần so với trẻ em người da trắng. 

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

Thợ lặn – một số kiểu quạt chân nhái

Kiểu truyền thống. 

Trong kĩ thuật bơi bằng chân nhái, bạn vẫy chân nhái lên xuống nhịp nhàng, với toàn bộ đôi chân tương đối thẳng. Nếu thực hiện đúng, lực sẽ bắt nguồn từ hông và cung cấp lực đẩy, sẽ đẩy bạn về phía trước sau mỗi cú vẫy. Trong kỹ thuật này, hông và chân được nối với thân mình, đầu gối thẳng, bàn chân duỗi thẳng về phía sau, và vẫy. Kĩ thuật này sử dụng các cơ ở mặt trước của đùi để đẩy cơ thể về phía trước.


Nhưng, hoàn toàn khác với bơi lội, lặn không phải là môn thể thao tốc độ. Dùng kĩ thuật này sẽ tốn sức và gây lãng phí năng lượng cho thợ lặn, trừ khi cần bơi ngược dòng chảy. Hơn nữa, cú vẫy này có thể làm phiền sự sống dưới đáy biển, bởi nó hất tung bùn cát lên, do đó, tốt nhất là tránh dùng kĩ thuật này khi bạn bơi sát đáy biển hoặc sát vách đá.



Kick. Kĩ thuật này sử dụng khá phổ biến. Nó liên quan đến một cú vẫy với đầu gối co lại. Nó giảm nỗ lực cho thợ lặn, nhưng vẫn đạt hiệu quả. Nó tốt cho chuyến lặn chậm rãi và thư giãn. Người có chân nhái floaty sẽ dễ thực hiện hơn cả.


Scissors Kick (“cắt kéo”). Vị trí cơ thể trong kỹ thuật này giống như kĩ thuật vẫy chân lên xuống. Tuy nhiên, chuyển động của chân là khác nhau. Đầu gối cong, và thay vì 2 chân chuyển động lên xuống, thì 2 chân mở rộng ra và khép lại với nhau (giống như cắt kéo) và dừng tại vị trí đó khi cơ thể đang lướt tới. Một chân dừng lại ở phía trên và chân kia dừng lại ở phía dưới khi kết thúc cú cắt kéo. Kick này được ưa chuộng vì tạo ra lực đẩy mà không cần sự nỗ lực như kiểu truyền thống. Đây là một phong cách finning tuyệt vời để sử dụng khi bạn bơi gần với đáy biển mà không làm khuấy động cát bùn.


Kick Frog. Là phong cách “cắt kéo” phổ biến nhất của lặn hang động để tránh hất bùn cát trong một không gian hạn chế. Bạn duy trì phần đùi thẳng với thân, đầu gối gập, nên khi quạt, chân nhái sẽ quét ngang nhưng hơi đi chéo lên. Bạn phải xoay cổ chân/phần dưới của chân, để đạt được định hướng phù hợp. Nhiều thợ lặn tìm thấy sự thoải mái khi sử dụng cắt kéo, hoặc xen kẽ với kiểu quét khác trong mỗi vài phút. Tuy nhiên, kĩ thuật này không thật phù hợp với một số loại như "chân nhái xẻ".


Frog Kick. Là phiên bản sửa đổi của “cắt kéo”. Bạn không đưa chân ra xa, mà thay vì hạn chế chuyển động của đùi và đầu gối, thì dùng bàn chân để làm việc. Đây là một cú quạt nhẹ nhàng, nó không tạo ra nhiều lực đẩy. Lý tưởng để sử dụng trong không gian rất hạn hẹp.


Backwards Kick. Như tên gọi, cách vẫy này để đẩy cơ thể lùi lại về phía sau. Đây không phải cú vẫy dễ dàng, thanh lịch, nhưng rất hữu ích trong nhiều tình huống. Kỹ thuật này gần như đảo ngược hoàn toàn của con ếch đạp nước. Trong nửa đầu, khi chân bạn di chuyển ra ngoài và sau đó kéo lại gần cơ thể, chân nhái phía trước dừng lại giữa đường để ngăn cản bạn tiến về phía trước. Chân quay trở lại điểm bắt đầu. Và lặp lại.


Helicopter Kick. Finning chỉ với một chân. Nó cho phép bạn nhanh chóng xoay tròn tại chỗ và xoay ngang cơ thể mà không phải bơi vòng lại. 

H: Một vài kiểu quạt chân khác nhau.







Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Tam giác quỷ. P4: Sự dao động của nhân trái đất và Vùng xoáy kích thước vừa

(Sưu tầm, trích).

P4-1. Thuyết về sự dao động của nhân trái đất.

Nhà bác học Nga Nicolai Coroviacov đã xem xét một hiện tượng khác thường ở tam giác Bermuda và đã đưa ra lời giải thích cho những tai nạn đã xảy ra tại khu vực này. Nó liên quan đến việc thay đổi chu trình thời gian – chiều “Không Thời gian thứ tư”.

Theo ông, nhân trái đất không nằm ở trung tâm của địa cầu, mà dưới tác động lực hấp dẫn của mặt trời, mặt trăng và các hành tinh khác, làm nó bị lệch. Khi quay, nhân dường như dao động phía dưới lớp vỏ, gây ra dòng ngược của macma nằm giữa chúng, và như một hệ quả – xuất hiện trường điện từ.

Ngoài ra, do trục quay của trái đất bị nghiêng như chúng ta đã biết, nên nhân trái đất sẽ đi lên/đi xuống, mùa hè nó lệnh qua Bắc bán cầu, còn mùa đông ở Nam bán cầu. Vì lý do này xích đạo của nhân trái đất không trùng với xích đạo vỏ ngoài của trái đất, mà ở trên vĩ tuyến 28. Lòng dẫn của dòng macma nằm ở đây. Thời gian qua đi, nhân đập vào vỏ, gây ra sự dịch chuyển của lục địa, sự trôi của các cực từ trường và sự phun của núi lửa. Theo ông, thiên nhiên đã giăng 10 bẫy bí ẩn: 5 điểm về phía bắc xích đạo của trái đất, còn 5 về phía nam. Nếu nối chúng bằng các đường thẳng, sẽ có 2 ngũ giác đều. Ở các điểm trùng với các đỉnh của ngũ giác là những chiếc bẫy, nơi các con tàu và máy bay biến mất không dấu vết, nơi có những con tàu hoặc không có thủy thủ đoàn, hoặc họ bị chết hết trong khoang. Một trong các cái bẫy này là tam giác Bermuda.

P4-2. Thuyết Vùng xoáy kích thước vừa.

Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học vô tình phát hiện ra nhiều đợt xoáy ở vùng biển Bermuda. Nếu so sánh chúng với kích cỡ của đại dương thì nó quá nhỏ bé và tuổi thọ quá ngắn. Thế nhưng, trong tích tắc, các đợt xoáy nhỏ bỗng nhiên hợp lại với nhau tạo thành một vùng xoáy cực lớn.Các nhà khoa học gọi hiện tượng này là “Vùng xoáy kích thước vừa”. Đường kính của chúng khoảng vài ngàn mét, thậm chí lớn hơn thế nhiều, và xoáy theo hình trụ đứng. Trụ đứng này cao vài trăm đến vài ngàn mét, từ đáy biển thẳng lên mặt biển, thậm chí có khi nhô cao hơn mặt nước biển.Chúng di chuyển với tốc độ rất nhanh và xoáy thẳng về phía trước. Theo ước tính của các nhà hải dương thì tổng năng lượng của “Vùng xoáy kích thước vừa” xoáy theo chiều kim đồng hồ là khoảng 4500000 tỉ Kj, tương đương với năng lượng của một cơn bão hạng trung.
“Lốc xoáy kích thước vừa” có thể nuốt chửng tàu bè. Chính vùng biển xoáy rộng mênh mông và sâu thẳm này đã lập tức đẩy các tàu bè bị gặp nạn đi thật xa.Và điều này giải thích cho ta biết rằng tại sao ta không hề tìm thấy mảnh vụn của máy bay, tàu bè nào.

P4-3. Những thuyết khác và trí tượng tượng của con người.

P4-3-1. Do Trường điện từ: Một thuyết cho rằng tác động của sóng điện từ làm các dụng cụ hàng hải bị mất tác dụng, làm thuyền trưởng hay phi công trở nên rất khó khăn trong việc định hướng khi thời tiết xấu. Thế nhưng cho đến nay người ta không đo đạc được những gì bất thường tương ứng trong khu vực đó, và điều này, nếu có, cũng chỉ có thể giải thích được cho những tai nạn trong thời gian gần đây (hồi “chuyến bay 19” chưa có thiết bị hỗ trợ điện từ).

P4-3-2. Do Microburst: Trong vùng này thường hay có bão có thể là nguyên nhân trong việc các vật thể biến mất. Tàu buồm Gloris Colita (năm 1940) được tìm thấy 200 dặm về phía Nam của Mobile – Alabama trong vịnh Mexico. Các cánh buồm rách nát và khoang hàng ngập đầy nước. Bánh lái và tay lái bị nát vụn. Có thể chứng minh được là trong thời gian này đã có bão to trong khu vực. Có thể cho rằng, nguyên nhân mất tích của các tàu này là do cơn bão mạnh và lốc xoáy đã ập đến với sức mạnh khũng khiếp và chỉ xảy ra trong vòng dưới 5 phút, cái mà Hải quân Mỹ gọi là Microburst.

P4-3-3. Một chiếc tàu của Anh đi ngang Tam giác Bermuda và chỉ trong một phút họ đã ở bờ biển Ấn độ, mà không ai có thể thể lý giải được. Người ta cho rằng có một “đường hầm thời gian” ở đó và con tàu Anh đã rớt vào “đường hầm thời gian” này.

P4-3-4. Do Người ngoài trái đất: Được đưa ra thảo luận là người ở thế giới song song, kéo lệch thời gian cho đến Atlantis mà người ta cho rằng vẫn còn hoạt động dưới đáy đại dương.

P4-3-5. Do Bát quái trận đồ: Có kẻ cho rằng đây là “bát quái trận đồ” được lập từ khi vùng biển này còn là đất liền và nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay – nghĩa là chủ của trận đồ này, sau khi cho vận hành, đã quên không phá hủy nó, nên nó vẫn tồn tại cho tới tận ngày nay.  (Hết).

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

Tam giác quỷ. P3: Thuyết methane hydrate và Mô hình Klatrat

(Sưu tầm, trích).

P3-1. Thuyết methane hydrate.

Các nhà địa chất đã tìm thấy trữ lượng khí methane rất lớn trong vùng tam giác Bermuda, có thể là nguyên nhân cho việc tàu thủy biến mất. Dưới độ sâu từ 500 – 2.000 mét, “băng” methane (methane hydrate) có thể hình thành khi methane hiện diện với nhiệt độ thích hợp. Khi áp suất và nhiệt độ thay đổi, khí methane sẽ thoát ra khỏi các tảng “băng” này. Khi có thay đổi đột ngột, như động đất dưới đáy biển hay sự chuyển dịch trong kiến tạo mảng, thì một phần lớn của băng methane có thể bị phân rã ra thành nước và khí methane. Methane dạng khí nổi lên trong bọt khí và làm giảm tỉ trọng của nước. Lực đẩy của tàu thủy và tàu ngầm bị giảm đột ngột và mạnh đến mức chúng có thể bị “rơi” xuống tận đáy biển. Hiện tượng này được gọi là phụt khí. Ngoài ra còn hình thành điện tích khi bọt khí nổi lên do có ma sát với nước, mà qua sự chuyển động tạo nên một dòng điện, và từ đó là một từ trường. Nó giải thích cho việc những thiết bị và dụng cụ từ và điện đã không hoạt động được.

Sau khi “chuyến bay 19” biến mất, nhiều nhân chứng cho biết đã thấy một vụ nổ trên bầu trời. Một số người cho rằng có thể là khí methane bốc lên đã bốc cháy tại các động cơ của máy bay, dẫn đến một bùng nổ lớn mà các máy bay đã trở thành nạn nhân của nó. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một dấu vết nào là manh mối cho việc khí methane bốc lên từ biển có thể dẫn đến bùng nổ tới độ cao này của máy bay.

Việc chiếc thủy phi cơ bị mất tích khi đang tìm kiếm “chuyến bay 19” đã bị nổ do nhiên liệu và là lỗi chế tạo. Sự kiện nổ được nhắc đến với “chuyến bay 19” có thể chỉ là chuyện chiếc máy bay này rơi mà ra. Các nhân chứng lúc đấy đang ở trong vùng của tuyến bay theo kế hoạch của chiếc máy bay này, và ở rất xa tuyến bay của “chuyến bay 19”.

P3-2. Mô hình Klatrat của nước.

“Mô hình cấu trúc Klatrat của nước” đã được đưa ra từ năm 1959: Liên kết của các phân tử nước thành những hình đa diện, giống như hình dạng của quả bóng mà khoang bên trong của chúng được so sánh về giá trị với các phân tử nước cũng như với các phân tử của một số chất tạo khí – trong đó có metan, được gọi là klatrat. Ngoài những phân tử nước liên kết thành những hình đa diện, trong nó còn có cả các phân tử đơn lẻ – chúng có thể hoặc đi vào khoang bên trong của các klatrat, hoặc là nằm trong khoảng không gian giữa chúng. Trong các điều kiện tự nhiên, các phân tử khí tự nhiên có thể chiếm các khoang trong các klatrat, tạo thành các hydrat tinh thể. Loại phổ biến nhất – thường gặp ở vùng đóng băng vĩnh cửu và trên đáy biển, đáy đại dương – là hydrat tinh thể của metan. Nó là một khối giống như tuyết. Những hydrat tinh thể như vậy có thể sử dụng như nhiên liệu, tuy chúng là mối nguy hiểm đối với đời sống của trái đất.

Thuyết về hydrat tinh thể metan là nguyên nhân làm tàu biển và máy bay bị biến mất không để lại dấu vết tại “tam giác Bermuda” đã được Ben Klennel, nhà địa chất, Anh, đưa ra từ năm 1988: Dưới ảnh hưởng của nhiệt lượng từ trong lòng đất và các yếu tố khác, metan tách khỏi các hydrat tinh thể và tạo ra các bong bóng lớn dưới các chất trầm lắng ở đáy. Dưới tác động của các ứng lực không đáng kể, khối lượng lớn các bong bóng nổi lên mặt biển làm lật các con tàu và sau đó tàu bị hút vào phễu nước được hình thành. Và khí bật lên bề mặt nước biển có thể nổ khi gặp không khí, vì vậy máy bay sẽ bị phá hủy.

Joseph Monagan và David Mei, Australia, đã tiến hành các thí nghiệm trên mô hình các con tàu trong bể bơi và các thử nghiệm với mô hình máy tính, đã cho thấy khả năng tác động của cơ chế này thậm chí còn lớn hơn giả thiết của Ben Klennel.

Như vậy, việc metan tách khỏi hydrat tinh thể, và sau đó là sự bùng cháy của nó sẽ gây ra thảm họa. Sự ấm lên của trái đất có thể bị kích thích bởi việc thải khí cacbonic vào khí quyển – là mối nguy hiểm đặc biệt trong mối quan hệ này. Việc hủy hoại trạng thái cân bằng tự nhiên do hoạt động công nghệ của con người có khả năng đánh thức và đưa vào hoạt động cơ chế tách metan khỏi các hydrat tinh thể của các đại dương với những hậu quả xuất phát từ đây.

Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014

Tại sao có thợ lặn bị bệnh giảm áp (DCS)

(Bài của Jess Teideman, trích)

Năm 2001 vào một ngày đẹp trời, tại Kingscliff, bắc NSW, anh Daniel Trollope, 18 tuổi, cầu thủ Liên đoàn Bóng bầu dục, thực hiện cú lặn biển thông thường. Mọi chuyện vẫn bình thường cho tới thời điểm Daniel dừng giải áp(*) ở độ sâu 5 mét. Anh bỗng kiệt sức và cảm thấy đau ở phía dưới lưng. “Khi lên đến bề mặt, tôi bị ngất đi và được kéo lên tàu” – Daniel, hiện 28 tuổi, nói – “Tôi nghe thấy mọi âm thanh xung quanh, nhưng không thể mở mắt ra”.

Lên bờ, anh đi bộ tới trạm y tế đang đợi sẵn. Đó là lần cuối cùng anh đi bộ. Daniel, một thợ lặn có kinh nghiệm, tuân thủ các biện pháp an toàn và sử dụng cả máy tính lặn, đã bị căn bệnh DCS(*). Sau 16 lần điều trị bội áp, anh phục hồi lại một số cảm giác, nhưng vẫn còn bị những triệu chứng giống như bệnh chấn thương tủy sống.

DCS là căn bệnh có khả năng gây chết người, gây ra bởi các bọt khí nito trong mạch máu và cơ. Nó thường xảy ra ở thợ lặn bình khí nén (scuba), nhưng cũng có thể cả thợ lặn vo và người làm việc ở độ cao rất cao.

GS. Michael Bennett, Phòng bội áp và lặn, Bệnh viện Prince of Wales, Sydney, biết rất rõ những ảnh hưởng của nó đối với cơ thể con người. Ông đã chữa trị khoảng 60 trường hợp DCS mỗi năm. Ông nói: “Thợ lặn thiếu kinh nghiệm dễ có rủi cao hơn (so với kẻ nhiều kinh nghiệm) vì họ dễ gặp khó khăn trong việc tuân thủ các thủ tục an toàn lặn. Họ dễ hồi hộp, hoặc họ không nắm chắc quy trình an toàn, và vì vậy (dường như) họ thường nổi lên rất nhanh hoặc do lỗi của thiết bị (mà họ không biết cách xử lí)”.

Không khí chúng ta thở là hỗn hợp của nhiều chất khí: Oxy, nito và khác (21%, 78%, 1%). Chúng đều hòa tan trong máu, nhưng, không giống oxy, nito là khí trơ và được cơ thể loại bỏ khi chúng ta thở ra. Ở độ sâu 10 mét, áp suất lớn gấp hai lần áp suất trên bề mặt. Khi áp lực nước tăng lên gấp đôi, số lượng nito mà thợ lặn hấp thụ cũng tăng lên gấp đôi. Khí nito này ở trong máu và cơ của bạn cho tới khi bạn trở lại bề mặt – vùng có áp suất thấp hơn.

Khi bạn nổi lên, nito khuyếch tán ra khỏi cơ và bị loại bỏ khi bạn thở. Vấn đề xảy ra khi bạn đi lên quá nhanh – các bọt khí nito có thể hình thành trong máu và cơ. Nó tương tự như những gì xảy ra với một lon nước uống có ga. Khi mở lon, áp suất được giải thoát, hơi nhanh chóng tạo thành bọt. Nếu ga thoát ra khỏi một lon đã lắc mạnh thì sẽ như thế nào? Từ đó bạn liên tưởng tới sự nguy hiểm có thể xảy ra cho các cơ quan nội tạng của bạn.

Bọt khí này sẽ tác động ngay sau khi bạn lên bề mặt. Đau đớn là dấu hiệu đầu tiên, thường ở khớp và cơ – mà nhiều thợ lặn đã nhầm lẫn nó với sự mỏi cơ. Những triệu chứng khác như ngứa, khó chịu, da bị phát ban, nhức đầu, chóng mặt và nôn mửa. Đó là trường hợp DCS nhẹ. Nghiêm trọng hơn có thể xảy ra với động mạch. “Khi các bọt khí được tạo thành, chúng di chuyển trong mạch máu và làm rách lớp bên trong thành mạch” – TS. Peter Smith, thiếu tá Hải quân, sĩ quan Tàu ngầm và Y tế dưới nước, Hải quân Úc, nói – “Mạch máu có cấu tạo ở dạng phủ Teflon (không dính), nhưng các bọt khí có thể xé toạc lớp phủ, khi đó mọi thứ bắt đầu dính, và mạch máu có thể bị rò rỉ và ngưng hoạt động. Khi điều này xảy ra ở khắp cơ thể, nó sẽ gây ra nguy hiểm”.

Nghiêm trọng nhất là bị hư não, liệt nửa người. Có khả năng bọt khí đi vào não và tủy sống, và khi này có thể gây ngứa ran, tê liệt, bất tỉnh. Hư hại não có thể gây ra suy yếu thị lực, nhức đầu, lú lẫn và bị những vấn đề về cân bằng và phối hợp. Các trường hợp dẫn tới đột quỵ, tai biến, tê liệt và chết thường là do bọt khí làm tắc mạch máu.

Cách tốt nhất để tránh DCS là gì? Là tuân thủ các quy định về an toàn khi đi lên.

Michael nói, điều trị bệnh DCS bắt đầu với việc cho thở oxy (giúp tăng tốc loại bỏ nito), và nằm trong tủ cao áp (làm cho bọt khí nito hòa tan và giải phóng ra khỏi các cơ). Cách chữa trị tiêu biểu cho đa số người bệnh nặng là 5 giờ (ở áp suất tương đương 18 mét nước) và thêm một khoảng thời gian ngắn hơn (ở áp suất 14 mét). Sau đó không được lặn trong 4 tuần, rồi tái kiểm tra để bảo đảm là bạn đã hoàn toàn bình phục.

Các chuyên gia lặn nhấn mạnh rằng, phòng ngừa là cách tốt nhất để tránh thảm họa, trong đó bạn phải lập kế hoạch lặn và kiểm tra các thiết bị có hoạt động đúng hay không. Có đủ khí để thực hiện cú dừng an toàn(*) là vấn đề tiên quyết.

Cuối cùng là không đi máy bay trong vòng 24 giờ, kể cả khi bạn hoàn toàn không có vấn đề gì sau khi lặn. Bay trên độ cao có thể làm bọt khí nito được tái lập trong cơ thể thợ lặn. Đã từng có thợ lặn đột nhiên bị DCS trong trường hợp này.

(*) Xin xem trong “Tự điển lanbien” bên phải, trên cùng trang tin này.

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

Tam giác quỷ. P2: Thuyết sóng hạ âm

 (Sưu tầm, trích).

Giới khoa học Nga nghiêng về giả thuyết sóng hạ âm ở Bermuda làm rối loạn tâm thần con người. Con người không nghe được nhưng có thể cảm nhận được sóng hạ âm. Loại sóng âm này không chỉ có hại cho khí quản mà còn dẫn đến rối loạn tâm lý. Nếu sóng hạ âm có tần số dưới 16 Hz (16 dao động/giây), có cường độ cao (trên 180 dbm), thì sức phá hoại của nó sẽ rất lớn, có thể làm gãy thân thuyền, cột buồm, máy bay, khiến con người không thể chịu đựng nổi và không thoát nổi cái chết. Sóng hạ âm truyền được trong môi trường nước. Nguồn gốc của chúng có thể do núi lửa hoạt động ngầm dưới biển và do động đất.

Như chúng ta đã biết, sóng hạ âm có cường độ cao gây nên cảm giác sợ hãi và ý muốn chạy thoát khỏi không gian khép kín. Hành vi đó là hậu quả của phản ứng trực cảm của con người mỗi khi bị tác động của sóng hạ âm hình thành trước lúc nổ ra các vụ thiên tai, động đất. Chính phản xạ này đã khiến cho các kíp lái và hành khách bị hốt hoảng và vội vã nhảy ra khỏi con tàu.

Khi cộng hưởng với nhịp sinh học của con người, sóng hạ âm có cường độ trên 180 dbm có thể gây chết người. Sóng hạ âm có thể là nguyên nhân dao động cộng hưởng của cột buồm và làm cho chúng bị gãy. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra khi sóng hạ âm cộng hưởng với độ rung của cấu trúc của máy bay. Sóng hạ âm cũng có thể là nguyên nhân hình thành một lớp sương mù dày đặc có màu sữa trên đại dương và nhanh chóng biến mất. Độ ẩm của khí quyển tích tụ lại trong giai đoạn giãn nở có thể không kịp tan ra trong không khí ở giai đoạn nén tiếp theo, nhưng có thể biến mất ngay tức khắc khi sóng hạ âm chấm dứt.

Cuối cùng, sóng hạ âm có tần số 5–7 Hz có thể cộng hưởng với dao động cơ học và gây nên tác động phá huỷ. Huyền thoại về trận gió hú rùng rợn, gây cảm giác sợ hãi do sóng hạ âm mạnh gây ra có thể là các hiện tượng tương tự xảy ra ở “tam giác quỷ”. Các cấu trúc có tính chất tương tự cũng có thể có ở các khu vực khác trên hành tinh.

Gốc là động vật, con người cũng có thể cảm nhận được sóng hạ âm hình thành từ thiên tai, đó là cách để bảo đảm sống sót khi bị tai nạn. Đó là phản ứng né tránh không gian khép kín để không bị rơi vào tình trạng chết chùm; xu hướng chạy ra xa các khu vực có thảm họa. Dĩ nhiên những hành động đó đều kéo theo cảm xúc sợ hãi. Đồng thời, khi bị tác động trực tiếp vào cơ thể, sẽ xuất hiện các phản ứng không cụ thể như suy kiệt, mệt mỏi và rối loạn. Tuy con người đã không còn nhạy cảm với sóng hạ âm, nhưng khi bị tác động của sóng hạ âm cường độ lớn, hệ thống bảo vệ từ xa có thể bị kích hoạt và lấn át khả năng hành động tỉnh táo. Nếu sự sợ hãi không phải do các biểu tượng bên ngoài gây ra thì có thể xuất phát từ bên trong. Con người sẽ cảm thấy một xúc cảm sợ hãi vô thức. Điều này được chứng minh qua những lời nói cuối cùng của các phi công và thuỷ thủ khi bị chết trong vùng Tam giác quỷ, như: “Bầu trời thật khác lạ”, “Mặt biển thật khác lạ, một điều khủng khiếp đang xảy ra”.

Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2014

Sự cố nhỏ nhưng có thể phá vỡ sự thoải mái khi lặn

(sưu tầm, trích).

Nguyên nhân là do các cảm biến trong cơ thể (*) cảm thấy có một cái gì đó là không ổn, và bạn bắt đầu cảm thấy nôn nao, và nếu không nhanh chóng remediated, bạn sẽ ói. Làm thế nào để tránh say tàu thủy (say sóng)?

1. Cần phải ăn. Một bữa ăn trước khi lặn là rất quan trọng. Với hầu hết mọi người, một dạ dày trống rỗng sẽ nhạy cảm hơn với kích thích từ bên ngoài. Bạn làm đầy nó trước khi rời khỏi bờ khoảng 60 phút là ý tưởng thông minh. Bữa ăn nhiều carbohydrate, dầu mỡ và tính axit sẽ góp phần làm bạn say tàu thủy. Cuối cùng, tránh rượu và thuốc lá.

2. Nếu bạn biết bạn dễ bị say tàu xe và sử dụng quá trễ thuốc chống nôn, như như Meclozine (Bonine, Antivert, Meni-D, Antrizine) hoặc Dramamine. Meclozine sẽ giảm hoạt động của các phần của não điều khiển việc buồn nôn. Hãy chắc chắn để bắt đầu uống thuốc vào đêm trước chuyến lặn (xem kĩ hướng dẫn sử dụng thuốc).

3. Nhiều thợ lặn ăn gừng để tránh say sóng. Bạn chỉ việc ăn chúng trước và trong lúc nghỉ giữa ca lặn. Mặc dù chưa được kết luận hoàn chỉnh, nhưng nghiên cứu cho thấy, gừng có chứa một số chất có tác dụng thư giãn đường ruột, làm giảm nguy cơ bị say.

4. Tránh nhìn vào những điểm dao động mạnh. Nhìn ra xa tận đường chân trời có thể giảm bệnh. Tránh nhìn xoáy vào những điều dao động mạnh, và đặc biệt nhất, không nên đọc sách tại những thời điểm này.

5. Ngồi ở đâu. Những vị trí khác nhau trên tàu sẽ dẫn đến sự cảm nhận khác nhau về độ dao động, nó sẽ truyền sang cơ thể bạn. Ở vị trí Topside, gần trung tâm tàu thường là đỡ nhất.

6. Mùi. Kết hợp với mùi có thể làm phức tạp hóa tín hiệu truyền lên não, làm bạn tăng khả năng trở thành bệnh nhân. Tránh mùi khói diesel, khói thuốc lá, nước hoa và (tất nhiên là) chất nôn của người khác.

7. Uống nước trong khi trên tàu và trong khoảng thời gian nghỉ ngơi sau cú lặn. Điều này sẽ giúp giữ cho cơ thể bạn đầy đủ nước, và hơn nữa, giúp dạ dày chuyển hóa thức ăn và xử lý các tình huống khác tốt hơn.

8. Nếu bạn bị quá nóng khi ở trên boong tàu, bạn sẽ có nhiều nguy cơ bị bệnh. Đội nón để nắng không chiếu trực tiếp lên đầu bạn, tốt nhất là ngồi trong râm, và cởi một phần hoặc toàn bộ wetsuit ra khỏi người bạn.

9. Nếu cảm thấy sắp bị ói, bạn hãy di chuyển đến vị trí cuối gió (và với gió ở phía sau lưng bạn), nghiêng về phía trước và “tuôn” xuống biển. Cá sẽ cảm ơn bạn. Không bao giờ đứng ở vị trí đầu gió – bạn sẽ làm người khác bị ói theo bạn.

10. Nếu bạn sớm cảm thấy các dấu hiệu của say sóng (sắp say), thì khi nhảy xuống biển, bạn chìm hẳn đầu xuống nước và hít thở một lúc sẽ hết. (Còn nếu vẫn không thấy hết thì tốt nhất là … leo lên tàu).

11. Nếu bạn tình cờ bị say sóng trong khi đang lặn, thì cứ việc ói “thả cửa”. Đó không phải là một trải nghiệm thú vị, nhưng  sau đó bạn sẽ cảm thấy tốt hơn gần như ngay lập tức.

Điểm mấu chốt là say tàu xe có thể được giảm thiểu bằng một giấc ngủ đầy đủ trong đêm trước, ăn các món ăn và với số lượng phù hợp, sử dụng thuốc chống say, và chủ động phòng tránh – trước khi dấu hiệu đầu tiên của say sóng biểu hiện.


(*) Các cảm biến của cơ thể (cảm biến bên trong tai, mắt và các mô sâu hơn) sẽ phát hiện những thay đổi (ví dụ như sóng biển làm chiếc tàu nhấp nhô) và đưa dữ liệu về não bộ, sẽ có thể gây ra phản ứng (bị say). Các nhà khoa học không chắc chắn những gì gây ra nôn khi say tàu xe, nhưng họ cho rằng các dữ liệu này (từ nhiều cảm biến) đã mâu thuẫn nhau sẽ gây rối loạn và đầu độc bộ não, và cơ thể (tự động) phản ứng bằng cách bảo tồn nguồn năng lượng dự trữ – đào thải những thứ mà cơ thể sẽ phải tiếp tục tiêu tốn năng lượng (thức ăn chưa tiêu hóa).

Thứ Ba, 25 tháng 3, 2014

Tam giác quỷ. P1: Tam giác Bermuda

 (Sưu tầm, trích)

“Tam giác Bermuda” là vùng biển diện tích chừng 500.000 km2, nằm trong một tam giác với 3 đỉnh là mũi Florida, Puerto Rico và quần đảo Bermuda. Từ hơn một thế kỷ qua, nhiều truyền thuyết về việc tàu thủy và máy bay mất tích một cách bí ẩn ở đây.

Khái niệm “tam giác Bermuda” xuất phát từ Vincent Gaddis vào năm 1964. Việc quan tâm đến các hiện tượng được cho là siêu tự nhiên đạt đến đỉnh cao năm 1974 khi cuốn “The Bermude Triangle” của Charles Berlitz và J. Manson Valentine trở thành sách bán chạy nhất. Trong đó, một danh sách tàu thủy và máy bay biến mất không dấu vết được đưa ra làm bằng chứng gián tiếp cho “hiện tượng tam giác Bermuda”. Thật ra thì một vài tác giả đã gộp cả vùng Azores và Caribbean vào tam giác Bermuda, và vì thế đã mở rộng vùng “rất nguy hiểm” này lên gấp ba lần.

Dường như các biến cố hay xảy ra trong “tam giác quỷ”. Số phận của “chuyến bay 19” trong tháng 12/1945 là một trong những biến cố đó. Trong những năm sau đó, thống kê các mất mát kì lạ tăng rõ rệt: Năm 1947 chiếc máy bay "Superfort" không trở về sân bay. Chiếc C-54 Skymaster và đội bay được nghe thấy lần cuối cùng khi cách Bermuda 100 dặm, sau đấy liên lạc vô tuyến bị cắt đứt. Năm 1948 chiếc "Star Tiger" của Anh biến mất trên bầu trời một cách không giải thích được. Cũng trong năm đó, tín hiệu radar của một chiếc máy bay hành khách biến mất. Chiếc DC-3 đang trên đường bay từ Puerto Rico đến Maimi. Năm 1949 chiếc "Star Ariel" biến mất khi cách Bermuda 380 dặm về phía Tây-Nam. Và năm 1950 một chiếc máy bay kiểu Globemaster ở tận cùng phía Bắc của tam giác và năm 1952 lại một chiếc máy bay Anh trên đường đi đến Jamaica.

Các chuyện đều giống nhau: Tàu thủy, máy bay biến mất không dấu vết trong điều kiện thời tiết tốt, biển lặng mặc dầu phi công hay thủy thủ đoàn giàu kinh nghiệm, hay chiếc tàu thủy nguyên vẹn được tìm thấy đang trôi dạt trên biển nhưng thủy thủ đoàn mất tích. Các đàm thoại vô tuyến kì lạ và không rõ ràng cũng đóng một vai trò trong một số trường hợp. Nhiều giả thuyết được đưa ra, và thú vị là từ tác phẩm này sang tác phẩm khác, chuyện bí ẩn ngày càng cộng thêm bí ẩn, và cũng không hiếm các chi tiết giàu trí tưởng tượng.

Sau cùng, cuốn “The Bermuda Triangle Mystery – Solved!” của Lawrence Kusche, được xem là tác phẩm kinh điển của các cuộc điều tra mang tính hoài nghi, đã dọn sạch một loạt phỏng đoán, bán sự thật về đề tài này. Kusche chỉ ra rằng không có gì bất thường tại vùng biển này. Số tàu thủy và máy bay mất tích không cao hơn ở những nơi khác, tính theo lượng giao thông của những vùng biển khác có thể so sánh được trên các đại dương của thế giới, và phần lớn các trường hợp gây chấn động đã được đưa ra trong cuốn này. Từ đó sự im lặng của dư luận đã thay thế cho đề tài này.


Năm 1980 Berlitz đưa ra một số tai nạn mới “không giải thích được”, những tai nạn mà cuối cùng hóa ra là không hoàn toàn không phải là không giải thích được (trừ ba trường hợp). Mặc dầu tai nạn máy bay, tàu thủy vẫn tiếp tục xảy ra trên Đại Tây Dương nhưng ngày nay những tai nạn đã hiếm khi được liên kết với “tam giác Bermuda” nữa.

Thứ Ba, 18 tháng 3, 2014

Nguyên tắc Sơ cấp cứu Tại chỗ và luật Murphy của thợ lặn

(Bài trên Scubadiving.com – trích).

Don và Jane tham gia môn lặn Scuba giải trí đã 10 năm, nhưng 2 năm gần đây họ không đi lặn. Cơ hội đi lặn bất ngờ xuất hiện khi họ gặp một người bạn cùng câu lạc bộ. Anh ta nói với họ về một chuyến đi với giá khuyến mãi. Don và Jane hầu như không có thời gian chuẩn bị. Họ chỉ kịp mở túi ra để biết rằng các thiết bị lặn vẫn còn ở trong đó.

Sáng hôm sau bọn họ đầy vui vẻ trên tàu lặn ... Cuộc lặn tiến hành ở vùng biển sâu 12 – 18 mét. Don và Jane lặn dọc theo rặng đá ngầm ở độ sâu 15 mét (cuộc lặn không có Divemaster(*). Don thì khoái “tung tăng” còn Jane thì thích “săm soi” từng ngõ ngách. Rồi một dòng chảy xuất hiện khiến cả hai bị mất sức và đã bị xa nhau hơn so với mong muốn. Bỗng mồm thở(*) của Jane bị sự cố, bong bóng khí phủ kín mặt cô, không khí tràn vào họng cô quá mạnh. Jane hốt hoảng, cô mất đi sự suy nghĩ bình thường. Cô vội vã nổi lên và bị bất tỉnh trước khi lên tới mặt nước. Sự nỗ lực sơ cấp cứu trên tàu lặn đã không thành công.

Thợ lặn nói:

- Tai nạn này tiềm ẩn trước khi Don và Jane đi lặn. Sau 2 năm không lặn, họ đã xuống nước mà không suy nghĩ về những gì mà họ sẽ phải làm. Họ không dành thời gian để nhớ lại kỹ năng của mình, và kiểm tra các thiết bị – chúng đã bị lãng quên trong nhà xe, cạnh máy xén cỏ, một nơi quá nóng, trong suốt thời gian này. Bảo trì thiết bị lặn không đơn giản như bảo trì máy xén cỏ và không được đối xử với chúng như vậy.

- Với công nghệ hiện nay, các thiết bị lặn đã trở nên đáng tin cậy, khả năng xảy ra sự cố là cực nhỏ nhưng bạn vẫn cần nhớ luật Murphy: “Bất kỳ cái gì có thể bị hư, nó sẽ bị hư”.

- Về mặt kỹ năng, khi gặp sự cố này, Jane sẽ thở bằng kỹ năng “từ chối van hạ áp”: Chỉ ngậm một nửa mồm thở (một kỹ thuật thời nhập môn), hoặc ra hiệu với bạn lặn “cho tui xài chung chai khí của bạn nhé” để dùng chung chai khí với Don, rồi cả hai thực hiện một cú đi lên nhàn nhã, an toàn.

- Mặt khác, nếu Don ở gần Jane, anh ta sẽ đưa cho cô mồm thở dự phòng. Dưới nước, thợ lặn cần quan sát lẫn nhau, ở gần bên nhau. Khi bạn gặp trường hợp khẩn cấp, bạn có thể không còn hồn vía nào nhìn ra xung quanh.

Cơ quan chức năng nói:

- Đối với người làm Sơ cấp cứu Tại chỗ: Khi cảm thấy làm sơ cứu không hiệu quả thì bạn vẫn phải KIÊN TRÌ làm hô hấp nhân tạo cho nạn nhân, cho tới khi nhân viên y tế chuyên nghiệp có mặt, ngay cả khi bạn tin rằng nạn nhân đã chết.

- Kiểm tra thiết bị của bạn theo định kì hàng năm là cần thiết. Bạn cần chăm sóc nó và điều đó phải ở trong tâm trí của bạn.

- Duy trì liên lạc với bạn lặn. Tai nạn lặn rất hiếm, nhưng khi xảy ra, sự có mặt của bạn lặn có thể giữ không cho nó trở thành thảm họa.

- Cách để nhớ lại những kĩ năng cơ bản là thực hành.

(*) Xem Tự điển Lanbien ở trên cùng bên phải trang tin.
H: Cho tui xài chung chai khí của bạn nhé.

Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014

8 lời khuyên đế tiết kiệm khí thở khi lặn Scuba




1. Giữ ấm
Nếu bạn lặn không cách nhiệt, bạn sẽ làm nóng nước đại dương bằng thân nhiệt của bạn J, dẫn tới tăng cường quá trình trao đổi chất và đốt oxy. Bạn hãy thử các phương án cách nhiệt khác nhau (áo rash guards, dive skins hay wetsuit…)
2. Chuyển động chậm.
Các chuyển động nhanh, đột ngột sẽ đốt khí thở nhiều hơn do chúng làm tăng lực cản của nước.
3. Chú ý, không dùng tay!
Tưởng tượng mình là con khủng long Tyrannosaurus Rex, với hai chân to đùng và hai cánh tay bé xíu. Quậy tung cánh tay và bàn tay cũng sẽ làm tăng thêm lượng khí bị đốt cháy mà ảnh hưởng rất ít hoặc chả có tác dụng thay đổi vị trí của bạn.
4. Gọn gàng hơn.
Phân bổ các trọng lực không hợp lý, trang thiết bị không gọn gàng cũng tạo sức cản và làm tốn hơi thở hơn. Thử thay đổi  vị trí các tạ chì xem.
5. Chậm bao nhiêu?
Hãy dùng thời gian làm thước đo. Hít vào trong khoảng thời gian năm đến bảy giây, và thở ra trong khoảng từ sáu đến tám giây. Khi đạt tốc độ thở chậm một cách tự nhiên, bạn khỏi cần đếm nhịp thở nữa.
6. Hãy giữ hơi một chút
Nguyên tắc tối quan trọng của lặn Scuba là phải thở liên tục! Tuy nhiên, bạn sẽ chỉ giữ hơi một khỏang ngắn cỡ 3 giây tại thời điểm sao khi hít vào  – thêm chút thời gian để cơ thể hấp thụ thêm oxy từ khí thở.
7 Làm nghẽn dòng thở
Hãy thử: đặt đè lưỡi lên vòm trên miệng và thở qua phần bao quanh lưỡi. Việc này tạo ra sự cản trở luồng khí thở, làm chậm việc thở lại.
8. Thực hành.
Cũng như mọi môn thể thao khác, kỹ năng của bạn chỉ cải thiện khi bạn thường xuyên luyện tập.
Chúc các bạn lặn Việt có nhiều thời gian đáy thưởng thức thủy cung.


Scuba diving.

Đi thuyền kayak trên dòng Mekong

(bài của Dong Nguyen, trích) 
… Nhìn nước sông Mekong chảy cuồn cuộn mà tôi thấy hơi lo. Thật ra tôi có khả năng bơi rất tốt nên không sợ lắm, tuy nhiên, không nên chủ quan khinh địch. Chúng tôi chia thành 5 cặp: Thuyền 1 – Od và một hướng dẫn viên địa phương nữa, thuyền 2 – Tiến và Thành, thuyền 3 – Hà và Thận, thuyền 4 – Nghĩa và Sỹ, thuyền 5 – tôi và Tuấn.
Anh em lần đầu chơi Kayak nên rất lúng túng. Mọi người đều quay vòng vòng trong khi thuyền của Od đã vọt lên trước. Con nước ở khu vực này chảy rất nhanh và mạnh. Thuyền bị xô đẩy một cách bạo lực. Chúng tôi cố gắng chèo chống nhưng hình như không mấy tác dụng.
Ven sông có rất nhiều bụi cây mọc từ dưới nước lên. Thân cây không to nhưng rậm rạp, nhiều cây chỉ còn cành khô. Thuyền của Nghĩa và Sỹ đi trước lảo đảo rồi trôi đi vun vút ... đâm sầm vào một bụi cây khá to. Nước xoáy làm thuyền lật úp, hất 2 người xuống nước.
Thuyền của tôi đi sau cũng chẳng may mắn hơn. Tôi ngồi phía sau cố gắng điều khiển cho thuyền lách sang bên nhưng dòng nước không chiều theo ý muốn. Thuyền tôi đâm gần như trực diện vào giữa thuyền của Nghĩa và Sỹ. Tôi hốt hoảng thật sự.
Tôi thấy Nghĩa đã ra khỏi bụi cây và trôi băng băng về phía trước, Sĩ thì hình như vẫn đang nằm dưới đáy thuyền úp. Tôi dùng mái chèo cố gắng nhấn vào thân cây hy vọng đẩy 2 chiếc thuyền ra xa nhau. Tuy nhiên, dòng nước như cơn lốc xoáy, nhanh đến độ không tưởng tượng được, thuyền của tôi lập tức bị lật úp và chồng lên thuyền của Sĩ.
Tuấn ngồi phía trước tôi bị hất tung xuống nước và trôi phăng phăng, còn tôi bị chìm trong làn nước đỏ quạch. Chỗ này nước chảy xiết và khá sâu, tôi ngoi đầu lên thở. Ôi không! Trên đầu tôi là chiếc thuyền lật úp. Nón bảo hiểm của tôi đập vào thuyền “cộp cộp” mà vẫn không thoát ra được. Vì quá bất ngờ nên tôi hết hơi nhanh chóng. Phản xạ tự nhiên của con người khi hết hơi là mở miệng hít thở, khiến miệng tôi đầy nước Mekong.
Lúc này tôi bị bất ngờ nên mất tinh thần ghê lắm. Tôi quyết định lặn về hướng trái của bụi cây. Mắt tôi mở to dưới làn nước đỏ quạch nhưng hoàn toàn không nhìn thấy gì, hai tay quạt mạnh lần mò ra khỏi đám cây chằng chịt rồi bơi thêm một đoạn nữa cho thật chắc rồi mới ngoi lên.
Hai chiếc thuyền lúc nãy vướng vào cây đã bị nước cuốn sang phía phải. Một chiếc theo dòng trôi đến chỗ của Sỹ, chiếc kia thì càng lúc càng xa. Tôi bơi và tận dụng dòng nước để tiếp cận con thuyền. Thật may mắn, chỉ chưa đầy 10 sải tay, tôi đã tiếp cận được thuyền. Lúc này thuyền vẫn lật úp. Phía đáy thuyền thiết kế nhiều lỗ nhỏ, tôi dùng đầu ngón tay bám vào đó và cùng nó trôi đi.
Tôi đạp mạnh chân xuống dưới để hy vọng có thế ôm thuyền được tốt hơn. Nhưng một cảm giác ớn lạnh chợt chạy băng qua sống lưng khi chân tôi chợt tiếp xúc với một thứ gì đó vừa thô ráp vừa nhớt nhợt. Tôi chợt nhớ đến lời dặn của Od: Khi bị rơi xuống nước thì chân phải đưa lên cao, vì bên dưới có thể có bụi cây hoặc rong tảo. Nếu nó cuốn lấy chân thì rất nguy hiểm. Tôi chuyển sang bơi ngửa, tay phải vịn lấy mạn thuyền.
Dòng nước lại xô thuyền tôi vào một bụi cây khác. Chẳng hiểu sao khu vực này lắm cây thế. Tôi lại lọt thỏm bên dưới chiếc thuyền. Lần này thì tôi đã chuẩn bị tinh thần nên hít một hơi dài rồi lặn nhanh ra khỏi thuyền và bụi cây quỷ ám đó. Hy vọng chiếc thuyền sau khi đâm vào cây sẽ lật trở lại. Nhưng không, thuyền vẫn úp và tiếp tục trôi theo dòng nước chảy siết.
Lúc này Sỹ đã leo được lên thuyền. Chiếc khác có đến 4 người: Như vậy là Nghĩa và Tuấn đều đã được cứu. Chỉ còn mình tôi. Nước mạnh thế này thì Od chèo ngược dòng cứu tôi sẽ là cả vấn đề. Tôi đành bơi đuổi theo con thuyền đang trôi. Kỳ này, ý chí sinh tồn của tôi trở nên mãnh liệt, chỉ 7 sải tay tôi đã chụp được thuyền. Lúc này tôi mới thấy mạn thuyền có một sợi dây nhỏ để bám. Nhớ lại cách Od hướng dẫn cách lật lại thuyền khi dưới nước, tôi chồm qua thuyền. Lần 1 không thành công, lần 2 cũng không thành công. Tôi kiệt sức, phải nghỉ chút. Tiếp tục lần thứ 3, thành công. Tôi chồm qua được thuyền, tay chộp lấy sợi dây bên kia mạn thuyền và giật. Thuyền lập tức lật lại. Thật tự hào vì đã làm được chuyện mà mình chưa từng làm và không bao giờ nghĩ là mình sẽ phải làm.
Tôi nghỉ 1 phút, hít thở đều để lấy lại sức rồi tung mình lên thuyền ngồi vào vị trí. Thuyền trống trơn: Mái chèo bị mất, 2 túi tư trang trong đó có chiếc Nikon D90 cũng mất, chiếc kính mát Rayban cũng đã làm bạn với dòng Mekong rồi. Một cảm giác buồn bã tràn ngập. Lúc sinh tồn lo cứu mình nhưng khi thoát nạn thì nghĩ đến đồ. Chiếc Nikon đã theo tôi chinh chiến biết bao nhiêu năm nay giờ hy sinh ở dòng Mekong này thật oan uổng quá.
Rồi tôi thấy một sợi dây thõng xuống nước, nắm dây kéo lên thấy hơi nặng ... tiếp tục kéo ... Ôi, chiếc túi vẫn còn. Tôi lần sợi dây thứ 2 và kéo lên. Chiếc túi thứ 2 vẫn còn. Ai cha, thì ra bọn thiết kế thuyền đã tính toán hết các tình huống 

… Od và anh huấn luyện viên chèo lại phía tôi. Od đưa tôi một mái chèo và hạ lệnh tất cả tấp vào bãi cát nhỏ bên trái dòng sông để ổn định đội hình. Mệnh lệnh rất quyết liệt nhưng anh em phải vất vả lắm mới đưa thuyền cập bờ được. Riêng tôi lên được bờ thì mặt xanh như tàu lá chuối. Nước mũi chảy lòng thòng và cơ thể rã rời sau mấy trận vật lộn và uống nước Mekong tinh khiết …
(hình chỉ có tính minh họa)