Danh sách các tab/trang

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

Robert Duane Ballard - người truy tìm các tàu đắm nổi tiếng

(trích dịch)

Robert Duane Ballard (sinh ngày 30/6/1942) là cựu sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ và là giáo sư Hải dương học Đại học Rhode Island, rất quan tâm tới việc khảo cổ dưới nước, gồm: khảo cổ học hàng hải và khảo cổ những con tàu đắm. Ông được biết đến nhiều nhất với khám phá xác tàu đắm RMS Titanic vào năm 1985, chiến hạm Bismarck vào năm 1989, tàu sân bay USS Yorktown vào năm 1998, tàu John F. Kennedy PT-109 vào năm 2002. Ông đã từng thám hiểm đại dương trên con tàu E/V Nautilus.

Chiến hạm Bismarck của Đức: Ballard đã gặp muôn vàn khó khăn khi nhóm ông tìm kiếm Battleship Bismarck vào năm 1989. Độ sâu phải tìm kiếm là 4.000 feet, sâu hơn nơi Titanic bị chìm. Ballard cố gắng xác định xem liệu tàu chiến Đức đã bị đánh chìm bởi quân đội Anh hay do thủy thủy đoàn của con tàu này.

Tàu Lusitania của Anh: Năm 1993 Ballard tìm kiếm xác tàu RMS Lusitania ở ngoài khơi bờ biển Ireland. Con tàu đã trúng một trái ngư lôi, nhưng bị hai lần nổ, với vụ nổ sau lớn hơn nhiều. Ông xác định các nồi hơi còn nguyên vẹn, do vậy đã suy đoán vụ nổ thứ hai có thể được gây ra bởi bụi than. Nhiều người khác đã đặt câu hỏi cho giả thuyết này. Ballard không loại trừ khả năng do nước biển rất lạnh đã tràn vào máy động lực hơi nước (vẫn đang hoạt động) của con tàu, gây nên hiện tượng quá nhiệt.

Trận Guadalcanal: Nhóm của Ballard đã đến thăm khu vực biển có nhiều xác tàu đắm trong Thế chiến 2 tại Thái bình dương. Cuốn sách của ông nói về vụ chìm tàu Guadalcanal có nhiều hình ảnh tàu bị đánh chìm trong trận Ironbottom Sound khét tiếng, thuộc eo biển giữa đảo Guadalcanal và Floridas ở quần đảo Solomon.

Tàu USS Yorktown: Ngày 19/5/1998 Ballard tìm thấy và chụp hình xác tàu Yorktown bị chìm trong trận Midway.

Tàu John F. Kennedy PT-109: Năm 2002, Hiệp hội Địa lý Quốc gia và Ballard sử dụng tàu ngầm không người lái khảo sát vùng đáy biển quần đảo Solomon. Họ đã tìm thấy một ống phóng ngư lôi và các phần chuyển tiếp của xác tàu PT-109, bị tàu khu trục Nhật bản Amagiri đâm lủng vào năm 1943, tại ngoài khơi đảo Ghizo.

Hình minh họa.

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Một chút về lịch sử thi bơi quốc tế

Năm 36 trước Công nguyên, thi đấu môn bơi đã được tổ chức tại Nhật – tổ chức sớm nhất trên thế giới.

Năm 1869, Luân Đôn thành lập “Hiệp hội Câu lạc bộ bơi lội đô thị lớn” – một tổ chức tương tự như Liên đoàn, quy tắc thi đấu môn bơi ra đời. 

Năm 1896, tại “Thế vận hội hiện đại” lần thứ nhất tổ chức tại A-ten, bơi lội trở thành môn chính thức với ba nội dung thi đấu.

Hiệp hội bơi lội thế giới thành lập năm 1837.

Hồi năm 1896, khi bơi lội được đưa vào thi đấu ở Thế vận hội, môn bơi không phân chia kiểu bơi, tức “bơi tự do” theo đúng nghĩa đen, và chỉ có ba nội dung 100 mét, 500 mét, 1.200 mét.

Thế vận hội lần thứ 2 năm 1900 có thêm kiểu bơi ngửa.

Thế vận hội lần thứ 3 năm 1904 có thêm kiểu bơi ếch.

Tới năm 1908 mới có quy định về các môn thi đấu trong bể bơi.

Thế vận hội lần thứ 5 năm 1912 mới có thi đấu môn bơi của nữ.

Thế vận hội lần thứ 16 năm 1956 thêm kiểu bơi bướm, và từ đó có hình thức cố định là bốn kiểu bơi. Thi đấu môn bơi tại Thế vận hội sau đó có 6 môn, là bơi tự do, bơi ếch, bơi bướm, bơi ngửa, bơi phối hợp và bơi tiếp sức (gồm bơi tự do và bơi phối hợp) với 32 nội dung.

Hình minh họa.


Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Sự việc chẳng có gì ghê gớm, cũng không phải là trường hợp khẩn cấp, nhưng… (P2)

P2. Mục tiêu cuối cùng của bạn là trở lại tàu lặn


Để mắt tới tàu thuyền qua lại


Khi bạn bị cuốn trôi, thì mục tiêu cuối cùng của bạn là trở lại tàu lặn của bạn. Vì vậy, nếu bạn được một tàu khác vớt, thì bạn hãy nói với họ bố trí một điểm hẹn để tàu của bạn đến đón bạn, hoặc để tàu của bạn không phải tìm kiếm bạn nữa. Bởi các bạn của bạn có thể vẫn tiếp tục tìm kiếm bạn, gây ra các hoạt động tìm kiếm chồng chéo không cần thiết.


Giữ ấm


Ngay cả khi bạn đang mặc đầy đủ đồ ấm, bạn có thể vẫn bị mất nhiệt. Thêm một giờ trôi nổi trên mặt nước, bạn có thể bị lạnh, thậm chí bị giảm thân nhiệt, đặc biệt là nếu bạn đang ở đâu đó vùng cận nhiệt đới như California hoặc khi ánh sáng mặt trời đã tắt.

Khi phải chờ đợi lâu, bạn sử dụng các tư thế giữ nhiệt (Escape - HELP) bằng cách giảm thiểu diện tích cơ thể tiếp xúc với nước. Bạn cuộn cơ thể thành một quả bóng, 2 tay ôm đầu gối để 2 chân co vào sát ngực. Vị thế này sẽ giảm thiểu sự tiếp xúc của nách và bẹn với nước (các bộ phận phải cung cấp nhiều nhiệt nhất). Nếu có bạn lặn, các bạn có thể ôm lấy nhau.

Nếu thân nhiệt bắt đầu hạ, đầu tiên là run rẩy, sẽ có thể dẫn đến rối loạn tâm lý và có thể bất tỉnh. Bạn phải lập tức vứt bỏ các vật nặng trên người (nếu còn). Lấy dây cột chiếc phao+cờ báo hiệu vào cơ thể để đề phòng lúc các ngón tay tê cứng của bạn không thể giữ được nó.

Ngăn chặn ngay từ đầu


Như với hầu hết các tình huống, giải pháp tốt nhất cho vấn đề này là có kế hoạch lặn thích hợp. Lắng nghe cuộc họp lặn, tuân theo chỉ dẫn của Divemaster. Bạn cần tính toán dòng chảy để có thể đi cùng với dòng chảy và đủ thời gian để trở lại tàu. Bạn sẽ sử dụng ít calo hơn, ít khí thở hơn và dành khí thở cho thời gian lặn trở lại tàu theo “quy tắc một phần ba”. Và thế là bạn nổi lên sát tàu với một cú nghỉ an toàn, nhàn nhã, sau đó dõng dạc leo lên tàu y như một thợ lặn chuyên nghiệp.

Để tránh bị mất tích với tàu lặn hoặc ở quá xa nó sau khi nổi lên, bạn cần luyện kỹ năng định hướng. Hãy sử dụng la bàn mỗi khi chuyển hướng. Hãy tạo thói quen xác định các điểm mốc trên đường đi. Bơi từ từ và ghi nhớ các mỏm đá đặc biệt, màu sắc nổi bật của một mép vỉa san hô, thậm chí xếp các cục đá thành mũi tên chỉ hướng trong bãi cát, chúng sẽ trở thành một Breadcrumbs chỉ lối cho bạn trở lại tàu.

Khi xuất hiện dòng chảy mạnh và thấy mình bị cuốn trôi, hãy giữ bình tĩnh và kiểm soát bản thân là điều quan trọng nhất mà bạn có thể làm. Tec Clark, bạn tôi, nói: “Điều quan trọng là bạn không được hoảng sợ bởi chính tâm lý của bạn. Đơn giản là bạn hãy để mắt tới tàu lặn và môi trường xung quanh bạn, cộng với những kỹ năng mà bạn đã được học. Nếu bạn nhớ tất cả những điều đó, chuyến lặn của bạn sẽ là một câu chuyện tuyệt vời về hạnh phúc”.

Ưu, khuyết điểm của thiết bị tín hiệu.

Bill Kendig, bạn tôi, nói: “Các phao báo hiệu đều có thể xếp gọn vào túi BCD, và dễ dàng bơm lên bởi inflator, vì vậy bạn không có lý do gì để không có nó. Thiết bị báo hiệu sẽ tối đa hóa cơ hội cứu bạn trong tình huống bị cuốn ra biển”. 
Kendig nói: “Nhược điểm của còi là tàu lặn có thể không nghe thấy âm thanh nếu bạn đang ở cuối gió”. Đó là lý do tại sao thiết bị nhìn (phao+cờ, gương, đèn) là hữu ích, và hơn nữa, chúng sẽ cung cấp vị trí chính xác của bạn.
Kendig nói: “Thật ngạc nhiên, phao+cờ tín hiệu chỉ có thể nhìn thấy trong nửa dặm, nhưng gương tín hiệu cho phép nhìn thấy từ nhiều dặm. Nó y như ánh sáng đèn halogen nếu tàu lặn đang nhìn về phía bạn”. Còi và gương đều rất rẻ và bỏ gọn trong túi BCD. Tất nhiên khi mặt trời đã khuất thì còi có giá trị hơn gương, và còi bao giờ cũng hoạt động tốt, miễn phổi bạn còn không khí.

(*) Xin xem tại “Tự điển Lanbien” ở trên cùng bên phải trang tin này.

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Sự việc chẳng có gì ghê gớm, cũng không phải là trường hợp khẩn cấp, nhưng…(P1)

(Bài của một thợ lặn cấp cao, trích dịch)

P1. Nếu bạn nổi lên ở xa tàu lặn.


Trong chuyến đi lặn ở đảo Catalina, California, tàu lặn đưa chúng tôi đến mặt sau hòn đảo, nơi khuất gió và dòng chảy gần bằng không. Bạn tôi và tôi là nhóm đầu tiên nhập nước và hai chúng tôi đã có một chuyến lặn thoải mái.


Khi nhận thấy xuất hiện dòng chảy ngược chiều, hai chúng tôi lặn trở về tàu. Lên tàu, chúng tôi nhìn xem các thợ lặn nổi lên ở những đâu. Không một ai nổi lên ở gần tàu, tất cả đều rất vất vả khi bơi về tàu. Bạn tôi, một vận động viên bơi lội xuất sắc, nhảy xuống nước giúp các thợ lặn bị trôi. Tôi ở vị trí Topside và giúp họ leo lên tàu. Cuối cùng tất cả đã lên tàu, không xảy ra bất kỳ sự cố gì.


Sự việc chẳng có gì ghê gớm, cũng không phải là trường hợp khẩn cấp, nhưng nếu thợ lặn không được đón rước kịp thời, sẽ có thể có kẻ bị hoảng sợ. Mà hoảng sợ sẽ dẫn tới bị hạ thân nhiệt, kiệt sức, thậm chí có khả năng bị chết đuối sau khi đã nổi lên mặt nước.


Tôi muốn nói về chuyện nếu bạn kết thúc chuyến lặn và nổi lên ở hạ lưu dòng chảy và rất khó có thể trở lại tàu (ví dụ bạn bị lạc nhóm, hoặc nhóm bạn không lặn cùng Divemaster(*), thì nên làm gì?



Không chống lại dòng chảy


Trừ khi gặp dòng chảy nhẹ, việc chiến đấu chống lại dòng chảy ngược chiều là gần như không thể. Bơi theo đường chéo so với dòng chảy sẽ là một trong những cách để thu hẹp khoảng cách giữa bạn và tàu lặn, sau đó bạn sẽ đón nhận phao hỗ trợ có sợi dây dài nối với tàu lặn.

Dòng chảy bề mặt sẽ yếu hơn ở phía dưới, vì vậy nếu bình lặn của bạn có đủ khí và đáy biển ở dưới tàu lặn tương đối nông, bạn có thể chìm trở xuống và lặn trở về tàu.


Nếu không có cách lựa chọn thì bạn phải thực tế hơn. Bạn không nên xả thân chiến đấu với một thực tại mà bạn không thể đánh bại. Công việc của bạn lúc này rất đơn giản. Thay vào đó, cần phải bảo tồn năng lượng bản thân và báo hiệu cho tàu là quan trọng hơn cả. Nếu thấy nguy hiểm, bạn hãy tháo bỏ đai chì. Sau đó, nhìn quanh xem có một tàu thuyền nào khác không.



Tín hiệu giúp đỡ


Bạn không thể được cứu nếu không ai biết bạn đang ở đâu. Ngay cả trong vùng biển tương đối yên tĩnh, trên tàu vẫn có thể không nhìn thấy bạn đang ở trên mặt biển, bởi mắt họ bị các con sóng che khuất. Bí quyết để tàu lặn nhận ra bạn, là bạn thổi còi, phát tín hiệu cờ, đèn, gương. Các tín hiệu đó không chỉ nhận được sự chú ý của tàu, mà còn giúp họ giữ bạn trong tầm mắt cho đến khi họ tới tận nơi. Bạn hãy giữ lá cờ thẳng đứng và cao nhất có thể.
Tín hiệu còi sẽ rất tốt để nhận được sự chú ý của một ai đó. Tăng cường thổi còi nếu tàu vẫn không phát hiện ra bạn. Hãy nhớ rằng, thiết bị âm thanh sẽ hiệu quả hơn nếu tàu đang ở dưới gió so với vị trí của bạn. Một khi tàu đã phát hiện ra bạn, bạn cần giữ liên lạc trực quan với họ, và nếu bạn không có thiết bị báo hiệu nào, thì hãy tìm cách báo hiệu khác, như “vẫy cánh tay vòng cung” (kí hiệu “tôi cần giúp đỡ”)


Hãy bình tĩnh và có được thoải mái.


Trong khi bạn chờ đợi trên mặt nước, điều tốt nhất là giữ bình tĩnh. Tàu lặn sẽ quan sát biến động của sóng gió để tính toán vị trí của một thợ lặn đang trôi và đường sẽ tiếp cận. Nếu bạn đã báo cho tàu lặn và họ ra hiệu là đã thấy bạn rồi, thì bạn chớ hoảng sợ khi tàu không đến với bạn ngay lập tức, bởi vì họ còn phải vớt những thợ lặn khác trên đường tới gặp bạn.

Trong khi đó, nếu bị sóng biển đánh vào mặt thì bạn nên ngậm ống thở và đeo kính lặn. Bạn cần sự nổi của BCD(*) nhưng không nên bơm nhiều không khí vào BCD. BCD kiểu Jacket có thể ép ngực và bụng bạn khi bạn overinflated, sẽ làm bạn khó chịu. 
Nếu BCD bị xì thì bạn phải bỏ bớt vật nặng trên người, như đai chì và mặt hàng khác có trọng lượng, thậm chí là chiếc máy ảnh đắt tiền.

(*) Xin xem tại “Tự điển Lanbien” ở trên cùng bên phải trang tin này.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

San hô sống ở độ sâu 125 mét

Thường thì san hô sống ở độ sâu chừng vài mét tới 15 mét, bởi chúng cần ánh sáng mặt trời, thế nhưng, người ta đã tìm thấy hai loài san hô sống ở vùng ánh sáng cực yếu

(theo AFP)

Trường đại học Queensland, Úc, sử dụng robot khảo sát rạn san hô Great Barrier, tại bãi đá ngầm Ribbon, gần eo biển Torres Strait, đã phát hiện về sự tồn tại của một loài san hô sống ở độ sâu 125 mét.

Trước nay, san hô được cho là chỉ có thể tồn tại ở độ sâu đến 70 mét, nên phát hiện này sẽ đem đến sự hiểu biết mới về việc san hô sinh sôi và phát triển như thế nào. Các chuyên gia đặc biệt thích thú với việc san hô sinh sản như thế nào dưới độ sâu tới như vậy.

San hô nước cạn giao phối trong sự kiện sinh sản đồng bộ, còn ở độ sâu 125 mét sẽ rất khó. Họ nói: “Chúng tôi chưa có lời giải đáp cho vấn đề đó, có thể chúng đang làm những việc rất khác so với điều mà san hô nước cạn làm”. San hô nước sâu có thể vượt qua những cơn bão tốt hơn nhiều so với đồng loại ở gần bề mặt. Họ cũng xem xét việc axit hóa đại dương và tình trạng ấm dần lên đang tác động như thế nào đến những rạn san hô nước sâu. Họ tin chắc sẽ còn tìm được những loài san hô hoàn toàn mới so với sự hiểu biết của khoa học hiện nay.

San hô sống trong hang

Trung tâm Đa dạng sinh học, Hà lan, phát hiện loài san hô mới trong Tam giác san hô ở phía tây Thái bình dương. Chúng ở độ sâu tối đa 35 mét. Họ gọi chúng là Leptoseris troglodyta. Họ cho rằng chúng có quan hệ họ hàng với những loài san hô sống ở độ sâu lớn hơn 40 mét.
Các loài san hô thường sống cộng sinh với tảo Zooxanthellae. Tảo quang hợp để tạo ra hydratcarbon và oxy, và san hô sử dụng những chất này để tổng hợp nên canxi carbonat - “xương sống” của chúng. Nhưng do sinh trưởng trong điều kiện ánh sáng yếu, Leptoseris troglodyta không có tảo cộng sinh.


Kết quả nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa hai loài – mối quan hệ rất quan trọng đối với san hô. Khi nhiệt độ nước biển tăng – xu thế đang xảy ra trong các đại dương hiện nay – nhiều loài san hô sẽ đẩy tảo cộng sinh ra khỏi cơ thể chúng. Hiện tượng này sẽ dẫn tới cái chết của san hô. Họ nói: "Loài san hô mà chúng tôi mới phát hiện tạo nên những polyp nhỏ hơn so với những loài họ hàng của chúng và cũng phát triển khá chậm".

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Bơi tự do (bơi sải) dưới góc nhìn của huấn luyện viên Australia

 (Bài của Brenton Ford, trích dịch)

Nguyên lý bơi lội “Swimming into the 21th century” đã được thế giới bơi lội gọi là “kỹ thuật truyền thống”, nhưng ở nước ta nhiều người vẫn chưa biết về nó, vậy chúng tôi xin đăng bài này để bạn đọc tham khảo. (Lưu ý: Bài này đã được viết cách đây khá lâu – thời kì mà Úc tiến hành “cải tổ” về kỹ thuật bơi lội).

P1. Thay đổi một nhận thức

Tôi (Brenton Ford) là huấn luyện viên bơi lội (HLV) Australia cấp Quốc gia. Tôi sẽ cho bạn biết một chút bí mật tệ hại của thế giới bơi lội: Là một Quốc gia hai lần vô địch thế giới về bơi lội, nhưng tôi có thể nói tôi đã không biết làm thế nào để dạy bơi sải cho đúng cách.

Hầu hết các HLV hạng ưu tú chỉ có thể giúp cho vận động viên (VĐV) được những điều chỉnh nhỏ trong kỹ xảo bơi lội và sự cải thiện chỉ đem lại 1/10 của một giây. Đó không phải là lỗi của các HLV bởi họ chưa từng được ai dạy làm thế nào để dạy bơi lội được một cách chuẩn xác. Hầu hết các VĐV của tôi bị mệt mỏi một cách dễ dàng sau mỗi buổi huấn luyện. Họ đã mắc nhiều lỗi, như thở bị sai, đã làm cho HLV thất vọng với sự thiếu tiến bộ của họ.

Chúng tôi quyết định tìm ra cách huấn luyện cho bơi tự do (freestyle (*). Nhưng những bí mật để phát triển một kỹ thuật bơi sải hoàn hảo là không dễ dàng phát hiện ra. May mắn tôi có một người bạn, Sam Ashby – VĐV đội tuyển Australia.

Cuối cùng các kết quả tìm được đã hất tôi ra khỏi chiếc ghế HLV. Ví dụ với một chi tiết “cải tổ” sau: “Anh hãy yêu cầu VĐV giảm từ 44 strokes (quạt tay) cho mỗi vòng hồ xuống còn 32 strokes”. Thực tình tôi chưa bao giờ được nghe bất cứ điều gì giống như thế!

Kỹ thuật bơi sải hiện đại đã bảo tồn năng lượng cho VĐV. Họ không còn vất vả trong nước trong từng chu kỳ, mà thay vào đó, họ relaxed, confident, thoải mái. Họ bơi mịn màng chứ không tạo sóng nước dữ dội như xưa. Tôi tự hỏiTại sao kỹ thuật này (đã được tìm ra từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20) lại không được công bố sớm hơn cho công chúng?”.

Chúng tôi đã tiến hành sửa chữa các vấn đề mãn tính về kỹ thuật, như

-Khuỷu tay bị thấp trong giai đoạn recovery (phục hồi) cánh tay.
-Bị khó hít thở trong lõm nước trong mỗi nhịp thở.
-Cơ thể bị “fishtailingnhư con rắn zig-zagging.
-Không vẩy gót khi kich (quạt chân) – một lỗi Triathletes (VĐV ba môn phối hợp) rất hay mắc phải.
-Đôi chân bị chìm – đã tạo ra chiếc neo trên cơ thể của VĐV.
-Stroke với cánh tay bị rộng (cùi chỏ gập quá ít) kéo nước” hình chữ S không hiệu quả.
-Lực phát ra không xuất phát từ hông (với kich) và vai (với stroke).
-Bị khó thở sau một vài vòng đua.
-Tay bị trượt không bắtnước.

P2. T
ừng bước xóa bỏ các thói quen cũ trong bơi lội. 

Chương trình điều chỉnh đã nhanh chóng cho kết quả (thật tuyệt vời) trong khi tôi chỉ yêu cầu VĐV luyện tập 4 giờ một ngày:

-Cánh tay phục hồi của các VĐV đã di chuyển thả lỏng nó đã được nghỉ ngơi.
-Hơi thở đã thoải mái để VĐV không bao giờ bị thở hổn hển dù chỉ một lần.
-Hướng bơi thẳng không còn bị fishtailing.
-Tập các kỹ thuật kich khác nhau họ có thể dễ dàng áp dụng để thay đổi tốc độ bất cứ khi nào họ chọn.
-Không còn bị “bơi nổi” trong nước – sẽ làm cho cơ thể của VĐV hầu như không có sức đề kháng.
-Cơ thể đã cảm nhận một cách chính xác việc họ lướt đi trong nước.
-Xoay chuyển dễ dàng từ hông, từ vai, và chuyển động trong nước một cách hiệu quả.

Trong thực hành huấn luyện, chúng tôi đã yêu cầu VĐV:

-Bơi nhiều giờ nhưng chỉ với một sự thay đổi nhỏ trong cú stroke của họ.
-Ôm nước và “trườn” qua nó một cách nhẹ nhàng, và thoát khỏi cảm giác như VĐV đang bị “trượt.
-Cảm thấy thoải mái và không bao giờ bơi nổi” dù chỉ một lần (ý nói là VĐV đã biết “bơi chìm”).
-Cơ thể phải luôn thăng bằng (trim), và phải sử dụng đúng nhóm cơ bắp của mỗi động tác.

Những sự điều chỉnh này cũng đã đem lại kết quả tuyệt vời cho ngay cả những người bơi lội ít kinh nghiệm.

Chương trình “từng bước xóa bỏ các thói quen xấu trong bơi lộicủa chúng tôi chủ yếu luyện cảm giác nước, thư giãn trong nước, hơn là ép VĐV tuân theo kỹ thuật. Chúng tôi gọi đó là kỹ thuật Mastering Freestyle, bởi vì đó là những gì đã thực sự xảy ra.

Mỗi VĐV tự tìm ra các kỹ xảo cho họ (tự hình thành trường phái cho riêng mình), bởi bơi lội là thứ “cứng đầu, cứng cổ”. Nếu bạn muốn tìm một kỹ thuật chuẩn xác, một kỹ thuật duy nhất đúng, thì bài viết này không phải dành cho bạn!

(*) Freestyle (tự do) được thế giới bơi lội định nghĩa là kiểu bơi bất kì nào đó miễn không trùng với 3 kiểu bơi còn lại của Olympia. Là “tự do” nhưng freestyle lại “chọn” kỹ thuật của front crawl (bơi trườn sấp) nhưng với sự "cải tổ" về nguyên lý. Xin xem bài “Nguyên lý bơi lội của thế kỷ 21 – kỹ năng thay thế cơ bắp” và “Nguyên lý về Bơi chìm và Bơi nổi” ở chủ đề “3-BƠI” tại trang tin này. 

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Xác máy bay dưới đáy biển từ Thế chiến 2 gần như còn nguyên vẹn

(Theo Dân trí, trích đăng)

Một chiếc máy bay của Quốc gia Xã hội chủ nghĩa Đức (Đức quốc xã) hồi Thế chiến thứ hai bị bắn rơi trên eo biển Anh đã được đại dương bảo quản gần như nguyên vẹn.

Chiếc Dornier-17, mệnh danh “bút chì bay” này bị bắn rơi khi ném bom nước Anh, đã rớt xuống biển, ngoài khơi bờ Kent, đông nam Anh. Chiếc máy bay nằm ngửa dưới độ sâu khoảng 15 mét, và hồi xưa, thỉnh thoảng nhô lên một phần trên mặt đáy cát. Sau đó nó bị cát chôn vùi hoàn toàn.

Cuộc khảo sát bằng thiết bị siêu âm do cảng London (PLA) thực hiện đã phát hiện tình trạng nguyên vẹn đáng kinh ngạc của chiếc máy bay. Người phát ngôn Bảo tàng Không quân hoàng gia Anh (RAF) tại Hendon, London, cho hay, ông “rất hoài nghi khi lần thứ nhất nghe đến sự tồn tại và sự nguyên vẹn của nó”. “Đây là một trong những phát hiện quan trọng nhất trong ngành hàng không của thế kỷ này”.

Chiếc máy bay chỉ bị hư hại nhẹ, với buồng lái trước và cửa quan sát bị va chạm. Cửa thả bom mở cho thấy phi công đã thả hết bom. Hai phi công trên máy bay đã thiệt mạng, hai người khác bị bắt làm tù binh và sống sót sau cuộc chiến. Vỏ máy bay bằng hợp kim nhôm, và được sản xuất từng chiếc một, chính là lý do khiến nó “trụ” được lâu đến vậy.


Dornier-17 được thiết kế là máy bay chở khách vào năm 1934, sau đó chuyển thành máy bay ném bom thần tốc, bởi nó có khả năng bay nhanh hơn đối thủ. Tổng cộng khoảng 1.700 chiếc máy bay loại này đã được sản xuất nhưng do sức chở bom hạn chế, nên sau đó nhiều chiếc đã không được bay.

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

Cô gái thích bơi cùng cá mập

(Theo Dân trí, trích đăng) 

Cá mập luôn được xem là “sát thủ đại dương” nhưng với Andersen thì cá mập lại là tình yêu và niềm đam mê.

Julie Andersen, người Mỹ, hy vọng rằng niềm đam mê và tình yêu của mình với loài cá đáng sợ này sẽ truyền cảm hứng cho toàn thể thế giới để có thể chung tay bảo vệ loài cá mập, vốn bị đánh bắt nhiều trong thời gian qua và dẫn đến nguy cơ bị tuyệt chủng. Không chỉ đam mê, Andersen còn thể hiện tình yêu của mình bằng cách xuống nước để bơi lặn cùng những chú cá mập hoang dã chưa hề tiếp xúc với con người.

Cô nói, “Lần đầu tiên tôi bơi cùng một con cá mập là một khoảng khắc kỳ diệu mà tôi nhớ mãi”. “Những gì tôi cần làm là khiêu vũ cùng chú cá mập, một hành động được diễn ra một cách tự nhiên”. “Đây là một trong những trải nghiệm kỳ diệu và đáng kinh ngạc nhất. Do vậy tôi khuyến khích mọi người cùng làm như tôi”. “Hãy xuống nước, gặp gỡ một con cá mập. Bởi lẽ khi gặp gỡ và bơi lội cùng chúng, bạn sẽ không còn ý định muốn giết chúng nữa và bạn sẽ quan tâm đến chúng hơn”.

Andersen là sáng lập viên của tổ chức Shart Angels (Những thiên thần cá mập), một tổ chức nhằm nâng cao ý thức bảo vệ cá mập trên thế giới. Andersen đã bơi cùng nhiều loài cá mập có tiếng là dữ, gồm cá mập đầu búa, cá mập hổ, và cả cá mập trắng, loài cá mập nguy hiểm nhất thế giới.

“Nhiều người đã ngạc nhiên khi gặp tôi, bởi lẽ tôi chỉ là một cô gái tóc vàng, nhỏ nhắn, mà vẫn có thể thường xuyên tiếp xúc với cá mập” – Andersen nói – “Nhiều người còn ngạc nhiên hơn khi họ phát hiện ra ra rằng tôi vẫn còn đủ ngón tay, ngón chân và không mất đi bộ phận nào trên cơ thể”.

Andersen cho biết hành động của mình không chỉ nhằm nâng cao ý thức hơn nữa trong việc bảo vệ loài cá mập, mà còn nhằm giúp mọi người hiểu rõ rằng cá mập không phải là một “sát thủ máu lạnh” như nhiều người vẫn nghĩ. “Cho dù yêu chúng hay ghét chúng, chúng ta vẫn cần có cá mập trên hành tinh này, bởi vì chúng giữ cho đại dương trong sạch và lành mạnh. Thức ăn của chúng ta, thời tiết của chúng ta và ngay cả việc loại bỏ chất độc Carbon dioxide đều có vai trò không nhỏ của đại dương” – Andersen nói –  “Nếu không còn cá mập, đại dương sẽ trở nên ốm yếu, nghĩa là chúng ta sẽ trở nên ốm yếu”.

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

Một tai nạn lặn lẽ ra không bao giờ xảy ra

(Bài trên scubadiving.com, trích dịch)

Ray là một thợ lặn có kinh nghiệm. Một trong các thú vui của anhsắm thiết bị lặn. Anh thích các thiết bị tốt nhất. Ray vừa sắm một chai “mõm ngựa”(*) loại nhỏ.

Đó là một ngày hoàn hảo
, nắng đẹp, ấm, tầm nhìn tốt. Các thợ lặn giải trí sẽ làm hai cú lặn tại một rạn san hô. Cú đầu tiên độ sâu chừng 50 feet. Ray biết hầu hết các thợ lặn có mặt trên tàu, nhưng anh không chơi với ai. Anh không có bạn lặn trong chuyến đi (cuộc lặn không có Divemaster(**), nhưng họ sẽ cùng lặn xuống rạn san hô như một nhóm.

Đeo các thiết bị lên người, Ray cảm thấy nặng vì có thêm chai “mõm ngựa”, rồi đi ra mép tàu, không kịp kiểm tra thiết bị, kể cả thử mồm thở. Nhân viên giám sát lặn – một Divemaster ngăn Ray lại, nhưng anh đã nhảy xuống nước. Sau khi Ray đã ở trên mặt nước, Divemaster này đề nghị Ray kiểm tra lại mồm thở và Ray đã ra tín hiệu OK!” (“tôi biết mà”).

Ray
chìm xuống 50 feet, rạn san hô đã ở dưới chân. Một thợ lặn bơi đến chỉ vào mồm thở chính, và chỉ vào mồm thở dự bị, và chỉ vào Ray, rồi đi thẳng. Ray ra kí hiệu “OK!” (“tôi biết mà”) nhưng không hề quan tâm là người đó đã nói gì với mình. Anh lặn tiếp. Mười phút sau, Ray hít vào cảm thấy đã hết nhẵn khí thở. Anh nhìn quanhkhông có thợ lặn nào ở gần. Anh hoảng sợ, anh vội vã nổi lên bề mặt, quên bẵng nguyên tắc phải đi lên chậm rãi cho dù chỉ còn không khí trong phổi. Anh nổi lên cách tàu khoảng 50 mét. Anh ra hiệu cần sự giúp đỡ rồi bất tỉnh ...
Té ra trước lúc nhảy xuống nước, trong sự hấp tấp của mình, Ray đã quơ đại một trong 3 mồm thở, không dè đó lại là mồm thở của chai “mõm ngựa chứ không phải là mồm thở chính của chai khí chính.

Thợ lặn nói:

Nếu Ray
đi xuống bằng mồm thở chính thì tuyệt vời rồi, tất nhiên. Và khi anh nhận ra rằng anh không còn khí thở, thì nếu anh chuyển sang mồm thở khác thì vẫn tốt, bởi chai khí chính của Ray vẫn còn nguyên. Nhưng lúc đó anh đã hoảng sợ, có thể vì anh từng lặn rất nhiều lần với tất cả các cú lặn đều hoàn hảo, nên anh đã quên đi phản xạ về kỹ năng an toàn. Lúc đó tất cả các suy nghĩ có ý thức đã rời khỏi tâm trí của Ray, anh chỉ còn biết chạy trốn lên bề mặt.
Tai nạn này không phải là lỗi của thiết bị, mà do người sử dụng nó. Ray chưa từng xài chai “mõm ngựa. Ray cần tập sử dụng chai này một lần nữa, một lần nữa, cho đến khi nó trở thành bản năng thứ hai.

Tai nạn này
sẽ được ngăn chặn nếu Ray lặn theo nhóm. Khi ở trên tàu, bạn lặn sẽ giúp nhau kiểm tra để đảm bảo rằng tất cả mọi thứ đã được bảo vệ đúng cách. Và khi ở dưới đáy, thợ lặn trong nhóm sẽ nhìn thấy lỗi của Ray và đề nghị anh ta chuyển đổi mồm thở.

Có thể nói rằng, không ai khác ngoài Ray phải chịu trách nhiệm cho anh ta. Tuy nhiên, các thợ lặn trên tàu, đặc biệt là hai người đã cố gắng đề nghị Ray chuyển đổi mồm thở, giờ đây sẽ phải ám ảnh với cảm giác tội lỗi khi một đồng đội chết, trong khi lẽ ra có thể cứu được anh ấy. Lên tàu trở về đất liền trong tình trạng bị mất một bạn lặn là một kinh nghiệm lặn khủng khiếp.

Bài học kinh nghiệm:

1
. Bạn cần dành thời gian để thích nghi với thiết bị mới của bạn.

2
. Sự đào tạo gián tiếp: Lặn dưới sự chăm sóc của một Divemaster là một cách tốt để tìm hiểu về một kỹ năng mới và bạn sẽ đạt được sự tự tin. Bạn đừng ngại khi yêu cầu sự giúp đỡ của Divemaster.

3
. Nên lặn gần bạn lặn. Thợ lặn gần nhau có thể giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau thưởng thức cuộc lặn.

4
. Cần thực hành để nhớ kỹ năng tình trạng khẩn cấp (như ascents khẩn cấp).

5
. Thường xuyên giao tiếp dưới đáy biển là một cách tuyệt vời để học với bạn lặn. Bạn nên học thêm ngôn ngữ ký hiệu để bạn có thể giao tiếp được nhiều hơn, thay vì chỉ gồm các tín hiệu cơ bản.
(*) Chai khí dự phòng độc lập, bao gồm chai, mồm thở, và bộ đai treo gá chai (bộ “rọ mõm ngựa”).
(**) Xin xem trong Tự điển Lanbien ở trên cùng bên phải trang tin này.
H: Một chai mõm ngựa loại lớn.

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

Thợ lặn huấn luyện phi công vũ trụ

Neutral Buoyancy Lab của NASA là một cơ sở luyện tập dưới nước để chuẩn bị cho các pilot vũ trụ trong điều kiện không trọng lượng mà họ sẽ trải nghiệm trong không gian. Hồ bơi này dài 61,6 mét, rộng 31 mét, sâu 12 mét, dưới đó “dìm” một bản sao chính xác của Trạm vũ trụ quốc tế.

Trong buổi tập, mỗi pilot được giao cho một nhóm bốn thợ lặn: một thợ lặn kiểm soát an toàn, một thợ lặn hỗ trợ kiểm soát, một huấn luyện viên lặn và một người quay phim. Mang một khối trang, thiết bị nặng 136 kg, pilot được các thợ lặn giúp họ thực tập những công việc mà họ sẽ phải hoàn thành trong không gian. Họ thực hành trong trạng thái nổi trung lập (*) giữa lực nổi của nước với chì đối trọng (*), dưới sự theo dõi chặt chẽ của các thợ lặn.

Hai thợ lặn kiểm soát sẽ giám sát pilot khi anh ta chuyển từ công việc này sang công việc khác, và lượng khí thở cho anh ta trong 2 chai khí – để anh ta có thể duy trì dưới mặt nước trong suốt thời gian của bài huấn luyện.

Để pilot “đỡ rối” về độ nổi “phát sinh” khi cầm giữ và không cầm giữ dụng cụ thi công, pilot đeo trên đai lưng các dụng cụ bằng nhựa có độ nổi bằng không. Dụng cụ kim loại (dụng cụ thi công thiệt) sẽ do thợ lặn hỗ trợ kiểm soát trao tận tay họ và lấy đi khi họ xong việc đó.

Thợ lặn kiểm soát an toàn sẽ giúp pilot lên mặt nước trong trường hợp có sự cố thiết bị lặn, hoặc bị hoảng loạn dưới nước, hoặc những tình huống khác của lặn. Thợ lặn được trang bị camera có cáp đưa lên màn hình trên bờ, nơi có một nhóm chỉ huy huấn luyện. 

(*) Xin xem tại “Tự điển Lanbien” ở trên cùng bên phải trang tin này.

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

Đau tai do lặn sâu (P2)



Barotrauma tai trong: 

Tai trong có nhiệm vụ cho cả hai việc điều tiết và cân bằng. Giữa tai trong và tai giữa là “lỗ bầu dục”. Lỗ này bao phủ bởi các mô mỏng nhất, tinh tế nhất trong cơ thể người. 

“Lỗ bầu dục” được kết nối trực tiếp vào màng nhĩ bởi một chuỗi 3 xương nhỏ. Khi màng nhĩ dao động, các xương nhỏ chuyển động để mô lỗ bầu dục được kéo ra ngoài và vào bên trong. 

“Lỗ tròn” flexes tai trong phản ứng với sự chuyển động của lỗ bầu dục. Nếu lỗ bầu dục bị kéo vào tai trong, lỗ tròn sẽ phình ra để bù đắp. Lỗ tròn cũng được thực hiện bởi những thay đổi trong endolymph (tai trong) bởi áp lực nước. 

Nguyên nhân của Barotrauma tai trong: Kỹ thuật cân bằng tai không đúng là nguyên nhân phổ biến nhất của barotrauma tai trong. Động tác cân bằng Valsalva quá mạnh có thể gây tổn thương “lỗ bầu dục” – nếu lúc đó ống eustachian đang bị nghẽn. Khi đó, bên trong màng nhĩ, áp lực sẽ nén trực tiếp vào “lỗ bầu dục” thông qua chuỗi xương nhỏ, làm “lỗ bầu dục” cũng bị uốn cong vào theo màng nhĩ. 

Các dấu hiệu của barotrauma tai trong: Hầu hết thợ lặn bị cảm giác chóng mặt ngay lập tức, có thể kèm theo buồn nôn hoặc nôn mửa. Nghe kém và ù tai cũng là dấu hiệu phổ biến của barotrauma tai trong. 


Điều trị: Barotraumas tai trong là một trong những tai nạn nghiêm trọng nhất của thợ lặn. Nó cần chăm sóc y tế ngay lập tức để chẩn đoán, điều trị. Nó dễ bị nhầm lẫn với bị bệnh giải nén. Và có thể bị chống chỉ định cho việc lặn trong tương lai.

Để tránh Barotrauma:


-Không lặn khi đang bị bệnh hoặc tai đang bị nghẽn. Ống eustachian tắc nghẽn hoặc sưng sẽ không cho phép cân bằng tai được hiệu quả.

-Cần học cách cân bằng tai đúng. Không cân bằng tai một cách mạnh mẽ.
-Nên cân bằng tai một lần trên mặt nước (ngay trước khi đi xuống), sẽ cung cấp một đệm không khí trong tai giữa, và để “khởi động” ống eustachian.
-Nên đi lên/xuống thẳng đứng.

-Nếu bạn có vấn đề về cân bằng tai, bạn nên tập cân bằng tai ở trên cạn.

-Nếu bạn dễ bị các vấn đề về cân bằng tai, bạn hãy cân bằng tai vào trước chuyến lặn. Nếu bạn không thể cân bằng tai ở trên bờ thì bạn sẽ không thể cân bằng tai khi ở dưới nước.

-Không sử dụng nút tai, không nên dùng mũ trùm quá chặt, hoặc bất cứ điều gì khác có thể sinh ra bẫy không khí ở tai ngoài.

-Đừng tiếp tục lặn ngay cả với một barotrauma nhẹ - sẽ chỉ làm trầm trọng thêm chấn thương.

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

Đau tai do lặn sâu (P1)

(Bài của một huấn luyện viên, trích dịch)

Nếu chênh lệch áp suất giữa tai giữa và bên ngoài là 2,9 psi (có tài liệu nói là 2 psi), màng nhĩ sẽ bị bóp và thợ lặn cảm thấy đau, khó chịu. Thỉnh thoảng nó có thể xảy ra khi bạn mới chỉ xuống có 1,5 mét mà chưa cân bằng tai. Nếu chênh lệch là 5 psi có thể lủng màng nhĩ. Thỉnh thoảng nó có thể xảy ra khi bạn mới chỉ xuống có 3,35 mét mà chưa cân bằng tai.

Barotrauma tai ngoài.

Nguyên nhân: khi không khí ở tai ngoài bị bẫy sẽ hình thành một vùng hạ áp (áp suất tương đối) trong không gian này. Cái nút tai, có nhiều rái tai, mũ trùm tai quá chặt và exostoses, có thể tạo thành bẫy hạ áp ở tai ngoài.  

Các dấu hiệu: vùng hạ áp nói trên sẽ hút màng nhĩ lồi ra phía ngoài và mạch máu của tai ngoài bị vỡ (distends). Các thợ lặn gặp tình huống barotrauma tai ngoài sẽ bị đau và gặp khó khăn trong việc giữ cân bằng trung tính. Trường hợp nặng, sự biến dạng của màng nhĩ có thể gây ra barotrauma tai giữa. Dấu hiệu của barotrauma tai ngoài có thể là máu nhỏ giọt từ tai sau khi lặn (do các mạch máu ở tai ngoài bị vỡ).

Phòng ngừa: không sử dụng nút tai, không dùng mũ trùm tai quá chặt, và đảm bảo tai ngoài luôn thông suốt.

Barotrauma tai giữa (bệnh phổ biến nhất)

Tai giữa là một khoang chứa đầy không khí nằm giữa tai ngoài (có màng nhĩ) và tai trong. Ống eustachian kết nối tai trong với cổ họng, cho phép thợ lặn cân bằng áp suất trong tai giữa với áp lực nước, bằng cách thêm bớt không khí qua ống này. Một loạt 3 xương nhỏ kết nối với màng nhĩ và “lỗ bầu dục” có nhiệm vụ chuyển âm thanh vào tai trong.

Barotrauma tai giữa xảy ra khi thợ lặn không thể cân bằng áp suất không khí trong tai giữa với áp lực nước. Khi thợ lặn không có khả năng cân bằng, sẽ tạo ra một vùng chênh lệch áp suất trong tai giữa, hút màng nhĩ và các mô trong tai giữa, bởi sự gia tăng áp lực quá mức.

Barotraumas tai giữa có thể gây ra bởi lí do ống eustachian bị sưng hoặc tắc nghẽn. Sẽ là một ý tưởng tồi tệ nếu lúc đó bạn vẫn đi xuống. Thợ lặn lâu năm có thể tự co bóp ống eustachian một cách hiệu quả, để cho không khí thông qua tai giữa. Thợ lặn mới rất dễ bị barotraumas tai giữa, bởi họ còn phải chú tâm vào việc hoàn thiện kỹ thuật cân bằng tai. Họ có thể cân bằng không đủ hoặc quá mạnh dẫn đến sự hình thành vùng hạ áp.

Các dấu hiệu: Barotrauma tai giữa làm thợ lặn đau đớn và có khả năng không giữ cân bằng trung tính được. Nếu bạn tiếp tục đi xuống, hạ áp trong khoang tai giữa có thể kéo màng nhĩ tới mức bị lủng. Khi xảy ra, ban đầu thợ lặn thấy đau buốt và sau đó là một cảm giác nhẹ nhõm – đó là lúc màng nhĩ lủng.

Barotraumas tai giữa có thể dẫn đến một barotraumas tai trong, sẽ nghiêm trọng hơn nhiều.

Thợ lặn bị barotrauma tai giữa khi đi lên sẽ cảm thấy tương tự như barotrauma tai giữa khi đi xuống (tuy về vật lý là ngược lại): Thay vì hạ áp hút các mô của tai giữa, việc giãn nở không khí trong tai giữa khi đi lên gây tăng áp cho vùng tai giữa, áp lực sẽ ép lên các mô và màng nhĩ, làm lủng màng nhĩ. 

Sau khi lặn:

Bị barotraumas tai giữa (thể rất nhẹ) có thể nhận biết được sau khi lặn bởi cảm giác có nước trong tai tuy thực tế không có nước trong tai ngoài. Gây ra cảm giác này là do sự tích tụ của máu và chất dịch trong tai, chứ không phải do có nước đọng.

Nghe thấy tiếng nói như bị nghẹt, thấy chóng mặt, popping, hoặc nghe thấy âm thanh “tanh tách” khi di chuyển hàm, ống eustachian và tai bị đau nhức, nghe thấy tiếng ồn trong lần lặn tiếp theo, có chất dịch rò rỉ trong cổ họng, là những dấu hiệu của barotrauma tai giữa.

Điều trị Barotrauma tai giữa: Trường hợp rất nhẹ, bác sĩ sẽ kê một loại thuốc thông mũi để trợ giúp ống eustachian và dịch của tai giữa. Kháng sinh có thể được quy định nếu nghi ngờ nhiễm trùng. Thuốc nhỏ tai chỉ để giảm bớt các vấn đề của tai ngoài. Nên tránh những thay đổi về độ cao và lặn cho đến khi lành. Có thể mất từ ​​vài ngày đến một vài tuần cho barotraumas nhẹ, và lên đến vài tháng cho màng nhĩ lủng. Thợ lặn bị lủng màng nhĩ cần được kiểm tra y tế trước khi trở về nghề lặn.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Cua nhện nặng 15-20 kg, càng dài 4-5 m

(sưu tầm, trích đăng)

Trong họ nhà cua, “cua nhện” Thái bình dương là loài lớn nhất thế giới mà con người từng biết. Loài cua khổng lồ này sống ở đáy biển phía Nhật bản nên còn được gọi là cua nhện Nhật bản. Tên khoa học của cua nhện là Macrocheira kaempfer. Người Nhật gọi chúng là cua chân cao (cao cước giải).

Các nhà khoa học xác định rằng, cua nhện có bộ chân dài nhất trong số các loài giáp xác. Trong khi “cua đồng” có độ dài càng chừng 10 cm thì càng cua nhện tới 4-5 m. Bộ châncủa nó nâng đỡ một cơ thể có chiều ngang chừng nửa mét và nặng tới 20 kg. Con người thường gọi giới chân dài là phụ nữ, còn với cua biển thì ngược lại. Những chàng cua đực sở hữu cặp chân dài miên man, còn chân cua cái thì khá ngắn. Thậm chí, cặp càng của nó còn ngắn hơn cả chân.

Mặc dù cua nhện mang vẻ ngoài hung dữ, khiến người ta nghĩ tới những con nhện độc khổng lồ ăn thịt người trong phim ảnh, nhưng thực tế chúng là loài hiền lành. Chúng lợi dụng bọt biển hoặc các loại sinh vật khác để ngụy trang, trốn tránh các đối thủ hơn là tìm cách tự vệ, tấn công lại. Gặp kẻ thù, chúng chỉ biết trông chờ vào bộ mai cứng, giống loài rùa rụt cổ.

Cua nhện khổng lồ được tìm thấy ở vùng duyên hải phía Nam của đảo Honshu, từ vịnh Tokyo đến Kagoshima và một số vùng xa hơn. Những chú cua khổng lồ, nặng 15 đến 20 kg thường ở dưới độ sâu 500-600 m dưới đáy biển. Cuộc sống của chúng vẫn là điều bí ẩn với con người.

Thức ăn của cua nhện khổng lồ là các loài sò, động vật có vỏ. Món ưa thích nhất của chúng là các xác chết thối rữa. Vòng đời của loài cua nhện cũng thuộc hàng khủng ở biển cả. Các nhà khoa học tin rằng chúng có thể sống đến 100 năm. Những con cua có tuổi đạt ngưỡng này, thì trọng lượng của nó cũng đạt mức cực đại.

Do loài cua này cho thịt rất ngon, nên chúng bị săn lùng ráo riết. Trung tâm của nghề đánh bắt cua nhện đặt tại vịnh Suruga của Nhật bản đã ghi nhận sản lượng cua nhện gom được vào năm 1976 đạt kỷ lục với 247 tấn. Tuy nhiên tới năm 1985 đã giảm còn 32 tấn.