Danh sách các tab/trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thế giới biển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thế giới biển. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012

Rạn San Hô


Khi nói đến các rạn san hô thì người ta không chỉ nói đến sự đa dạng, giầu có sinh học và vẻ đẹp mà ngoài ra chúng còn cung cấp rất nhiều dịch vụ cho các cộng đồng dân cư ở đó. Các rạn san hô mạnh khỏe là nền tảng của nhiều hệ sinh thái nhiệt đới và chúng cung cấp sự sống, thực phẩm, niềm vui và cả những giá trị văn hóa cho hàng triệu người trên trái đất. Nếu các rạn san hô bị thoái hóa, phá hủy hay xâm hại, tất cả các dịch vụ trên sẽ bị ảnh hưởng


Cấu tạo và các loại rạn
Trước đây người ta tin rằng san hô đã mọc từ đáy của những vùng biển nhiệt đới sâu và sau nhiều thế hệ đã phát triển lên từ đỉnh của những bộ khung xương calcium carbonat. Ý kiến này sau đó đã bị bác bỏ vì những hoạt động nạo vét đã chỉ ra rằng các rạn san hô chỉ có thể mọc được ở những vùng nước nông.
Hiện nay lý thuyết của nhà tự nhiên học Charles Darwin về sự hình thành rạn san hô được chấp nhận rộng rãi. Lý thuyết này công nhận 3 loại rạn là: rạn san hô viền (the fringing reef), rạn san hô rào cản (the barrier reef) và đảo san hô vòng (the atoll)

  • Loại rạn thứ nhất là rạn san hô viền bao bọc những bờ biển của những lục địa và đảo ở các vùng biển nhiệt đới. Các rạn san hô viền rất phổ biến ở các đảo Hawaiian phía nam Thái Bình Dương và một phần ở Caribbean.
  • Loại rạn thứ hai là rạn san hô rào cản (barrier), nằm ở phiá ngoài khơi xa hơn so với rạn san hô viền. Rạn san hô rào cản được hình thành khi những vùng đất gần bờ biển bị chìm xuống, và những rạn san hô viền bị tách ra khỏi bờ biển bởi những con kênh rộng. Sự sụt lún bờ biển là kết quả của sự xói mòn và dịch chuyển vỏ trái đất. Những rạn san hô rào cản khá phổ biến ở vùng biển Caribbean và Indo-Pacific. Rạn san hô Great Barrier ở phía bắc Australia trong vùng biển Indo-Pacific là rạn san hô lớn nhất trên thế giới với chiều dài lên tới  hơn 2,000 km
  • Loại rạn thứ ba là đảo san hô vòng, được tạo thành trong trường hợp một hòn đảo nhỏ bị chìm xuống đáy biển. Khi đó rạn san hô bao quanh đảo sẽ trở thành đảo san hô vòng. Các đảo san hô vòng là các rạn san hô bao quanh một đầm phá trung tâm. Các đảo san hô vòng thường xuất hiện ở vùng biển Indo- Pacific. Đảo san hô vòng lớn nhất là Kwajalein, bao quanh một đầm nước có chiều dài trên 97km.

Các rạn san hô hiện nay được hình thành từ cuối của ba kỷ băng hà, vào khoảng 10,000 năm trước. Trong giai đoạn này nước biển bị kẹt trong các dòng sông băng khiến cho mực nước biển hạ thấp xuống. Hậu quả là các rạn san hô được hình thành trước đó đã bị chết. Khi các sông băng tan chảy, mực nước biển dâng cao tới vị trí hiện tại và các rạn san hô đã bắt đầu phát triển trở lại.
Hệ sinh thái rạn san hô là tập hợp đa dạng các loài sống cộng sinh lẫn nhau và với môi trường. Mặt trời là nguồn năng lượng khởi đầu cho hệ sinh thái này. Qua quá trình quang hợp các loài thực vật phù du, tảo và các loài thực vật khác chuyển hóa năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học. Khi các loài động vật ăn các loài thực vật, một phần của năng lượng này sẽ được lưu chuyển.

Một số thông tin về các rạn san hô:
  • Các rạn san hô nằm trong số những hệ sinh thái lâu đời nhất trên trái đất.
  • Các rạn san hô hỗ trợ cho sự đa dạng đáng kinh ngạc của các loài và cung cấp nguồn thực phẩm và chỗ cư trú không thể thay thế. Các khu rừng mưa nhiệt đới đóng một vai trò tương tự như vậy trên cạn.
  • Các rạn san hô hỗ trợ các nhu cầu đa dạng của con người. Chúng có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người, nghề cá, du lịch, bảo vệ bờ biển khỏi sự xói mòn, và cung cấp các chất cho ngành công nghiệp dược.
  • San hô là phần không thể tách rời khỏi rạn và đặc biệt dễ bị tổn thương trước các hoạt động của con người và các mối đe dọa liên quan tới khí hậu.
  • Các hoạt động của con người như  giẫm đạp, đánh bắt cá hủy diệt (bằng thuốc nổ, thuốc độc…) và việc thả neo có thể phá hủy hoặc giết chết san hô, kết quả là rạn san hô bị chết.
  • Các hoạt động vùng đầu nguồn như phá rừng và sử dụng phân hóa học có thể hủy hoại và giết chết san hô tại bờ biển.
  • San hô đã cho thấy khả năng phục hồi nhanh đáng kinh ngạc sau những lần thay đổi khí hậu cũng như thay đổi mực nước biển, tạo ra hy vọng cho sự sống sót của chúng.
  • Các rạn san hô tạo ra những rào cản  thiên nhiên bảo vệ các vùng bờ biển khỏi bị xói mòn, do đó bảo vệ cho các cộng đồng dân cư ven bờ biển, ngành nông nghiệp và các bờ biển.
  • Mặc dù các rạn san hô chỉ che phủ ít hơn 1% bề mặt trái đất, chúng là nơi sinh sống của 25% các loài cá trên đại dương.
  • It nhất 500 triệu người sống phụ thuộc vào nguồn lương thực, sự bảo vệ bờ biển của các rạn san hô.
  • Người ta đã ước tính rằng các rạn san hô cung cấp sản lượng hàng hóa và dịch vụ khoảng 375 tỷ đô la mỗi năm trên toàn thế giới.
  • Người ta ước tính rằng khoảng 20% các rạn san hô trên thế giới đã bị phá hủy trong một vài thập niên gần đây và khoảng 20% hoặc hơn nữa đang bị xâm hại  nghiêm trọng, đặc biệt ở vùng biển Caribbean và Đông Nam Á.
Các loài động vật rạn san hô
  • Bọt Biển là một phần của rạn san hô từ thời kỳ đầu. Bọt biển cung cấp chỗ trú ngụ cho các loài cá, tôm, cua và những sinh vật nhỏ khác. Chúng xuất hiện trong nhiều hình dạng và màu sắc
  • Hải quì là họ hàng gần của san hô. Các loài hải quì vùng biển Indo-Pacific được biết tới nhờ các quan hệ cộng sinh với các loài cá hề và cá nemo. Xúc tu của hải quì cung cấp chỗ trú ngụ cho các loài cá này và trứng của chúng. Ngược lại cá nemo có thể bảo vệ hải quì khỏi các loài săn mồi như cá bướm. Cá nemo thậm chí có thể loại bỏ những loài sống ký sinh trên hải quì
  • Thảm Biển (sea mat) bao phủ rạn. Những loài động vật không xương sống rất nhỏ này mọc các nhánh che phủ bộ khung san hô và các mảnh vụn của rạn, gắn kết các kết cấu của rạn.
  • Rạn san hô cũng là nhà của các loài sâu khác nhau, bao gồm cả giun dẹt và giun nhiều tơ. Giun dẹt sống trong các kẽ đá của rạn. Một số loài giun nhiều tơ thì có khả năng khoan vào bộ khung của san hô.
  • Các loài sao biển, hải sâm và cầu gai sống ở trên rạn san hô. Loài sao biển gai là loài ăn polyp san hô nổi tiếng. Với một số lượng lớn loài sao biển này có thể tàn phá rạn san hô, chỉ còn lại bộ khung calcium carbonate. Ở những rạn san hô chết, một số lượng lớn cá đã biến mất. Thậm chí cả các loài cá biển sâu cũng có thể bị ảnh hưởng bởi sự đứt gẫy của chuỗi cung ứng thức ăn này.
  • Các loài tôm, cua, tôm hùm và các loài giáp xác khác tìm kiếm sự bảo vệ khỏi các kẻ săn mồi khác bằng cách sống trong các khe đá hoặc giữa các cành san hô. Bản thân các loài giáp xác cũng là những kẻ săn mồi. Loài cua san hô nghiền nát những con cầu gai và con trai bằng bộ hàm khỏe của nó. Loài tôm san hô sọc là ví dụ của loài tôm dọn dẹp (cleaner). Nó lấy đi các loài ký sinh và lớp da chết của các loài cá rạn.
  • Bạch tuộc, mực, trai, sò điệp, ốc và ốc sên là những loài động vật thân mềm sống ở gần hoặc ngay trên rạn san hô. Nhiều loài sinh sống bằng cách lọc lấy thức ăn từ nước biển. Loài ốc Carnivorous có khả năng khoan các lỗ vào trong thân loài trai hoặc các động vật có vỏ cứng khác sau đó ăn thịt chúng. Một trong những loài động vật thân mềm lớn nhất ở rạn san hô là loài trai khổng lồ, với chiều dài có thể lên tới 1.2 m.
  • Các loài cá sống độc lập hay theo đàn là những cư dân quan trọng của hệ sinh thái rạn san hô. Các loài cá đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung cấp thức ăn của rạn, trong cả vai trò kẻ săn mồi và con mồi. Những thức ăn thừa của chúng là nguồn thức ăn và chất dinh dưỡng cho các cư dân khác của rạn san hô.
  • Một số loài cá mập, các loài cá đuối sống ở trên hay gần các rạn san hô. Một số loài khác thì chỉ bơi vào rạn để kiếm mồi. Một số loài cá mập rạn là lemon, nurse, Pacific blacktip, white-tipped và zebra. Những loài cá mập này cũng như cá đuối thường ăn cua, tôm, mực, trai và những loài cá nhỏ.
  • Cá vẹt (Parrotfish) sử dụng hàm răng như lưỡi đục của nó để gặm nhấm san hô cứng. Loài cá này là loài ăn thực vật, thường ăn tảo phía trong san hô. Chúng nghiền bộ xương ngoài của san hô để ăn tảo rồi thải ra cát. Một con cá vẹt có thể sản xuất ra khoảng 5 tấn cát mỗi năm.
  • Cá hàng chài (wrasses) bao gồm một nhóm lớn những loài cá có hình dáng giống điếu xì gà nhiều mầu sắc. Một số loài được biết đến như những cá dọn dẹp (cleaner). Chúng thiết lập nên những trạm vệ sinh dọc theo rạn san hô. Khi một con cá lớn hơn bơi dọc theo một trong những trạm vệ sinh này, một con cá hàng chài (cleaner wrasse) sẽ bắt đi những sinh vật ký sinh trên con cá đó.
  • Lươn là một trong những kẻ săn mồi hàng đầu của rạn. Loài vật này sống trong những kẽ đá của rạn và đi săn mồi vào ban đêm. Chúng có hàm răng sắc và bộ hàm khỏe. Lươn ăn những loài cá nhỏ, bạch tuộc, tôm và cua.
  • Những loài cá khác được thấy ở rạn san hô còn bao gồm: cá thiên thần (angelfishes), cá bướm (butterflyfishes), damselfishes, triggerfishes, cá ngựa (seahorses), cá chỉ vàng (snappers), cá sơn (squirrelfishes), grunts, cá nóc (pufferfishes), cá mú (groupers), cá nhồng (barracudas) và cá bọ cạp (scorpionfishes).
  • Một số loài rùa biển thường thấy tại rạn san hô là rùa xanh, rùa caretta (loggerhead) và đồi mồi.
  • Các loài rắn biển hiếm khi thấy ở rạn san hô nhưng chúng thường sống ở vùng nước xung quanh rạn ở vùng biển Indo-Pacific. Chúng có những răng nanh nhỏ nhưng ẩn chứa nọc độc nguy hiểm.
(Tổng hợp)

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

Âm thanh và âm nhạc dưới nước

Thế giới dưới nước không những khác trên bờ về cái nhìn mà còn khác về cái nghe nữa. Chắc hẳn tuyệt đại đa số những người thích lặn cũng thích ngắm cảnh ở dưới nước, nhưng không biết có bao nhiêu người biết thưởng thức âm thanh của thế giới nước đó nhỉ?! Trong khi đang lặn, có bao giờ bạn tự hỏi "cái tiếng động đó từ đâu ra?" Hay bạn có biết rằng chỉ cần lội xuống nước tới ngang mắt cá chân, bạn đã có thể lắng nghe những âm thanh vang vọng trong lòng biển từ xa hàng chục cây số?

Nếu hỏi những người lặn scuba về âm thanh dưới nước thì có lẽ sẽ nhận được câu trả lời rất hiển nhiên là tiếng hơi thở và tiếng bong bóng nước. Nhưng những ai lặn ống thở hoặc lặn tự do nhiều thì chắc hẳn phải ghi nhận được nhiều âm thanh đặc trưng của từng vùng nước và từng đối tượng khác nhau. Ở dưới nước, chúng ta có thể nghe những âm thanh như sau:

Tôm gõ mõ trong hốc đá / rạn san hô
Hầu như ở bất kỳ rạn san hô nào, chúng ta đều nghe tiếng tách tách rất đặc trưng, và chúng kêu lớn đến độ nhiều khi đứng trên bãi cạn mà chúng ta vẫn còn nghe thấy. Đó là tiếng "bắn súng" của những con tôm gõ mõ (snapping shrimp) hay tôm súng (pistol shrimp). Bình thường thì chúng luôn núp trong các hốc đá nên chúng ra rất khó thấy, nhưng tiếng động phát ra từ những cái "càng hoá súng" của chúng thì không thể lẫn vào đâu được. Mỗi con tôm súng có một cái càng được phát triển đặc biệt to lên trở nên mạnh đến độ mỗi lần kẹp lại, nó tạo ra một sóng xung kích (shock wave) nung nước xung quanh lên hàng ngàn độ và phát nổ như một quả pháo. Chúng sử dụng khẩu súng của mình vừa để liên lạc với nhau, vừa để tấn công đối phương (như trong video bên).

Tiếng kêu của cá
Ở dưới nước có nhiều loài cá phát ra tiếng động, nhưng "ồn ào nhất" có thể nói là những con cá mỏ vẹt (parrot fish). Chúng có chiếc mỏ bọc sừng cứng như mỏ con vẹt (két) dùng để cạp san hô. Và khi bơi gần chúng, ta có thể nghe rõ tiếng rào rạo khi những con cá này đang gặm san hô. Ngoài ra còn có những loài cá phát ra những tiếng rì rầm nhỏ hơn như cá vây tia (Grunt), Toad-fish, Silver Perch, Marine catfish,... Và hiển nhiên không thể không kể đến tiếng kêu của những con thú biển như cá heo, cá voi, hải cẩu,... nếu chúng ta có may mắn!

Thu & nghe âm thanh dưới nước

Ngoài những âm thanh tự nhiên, nhiều khi chúng ta còn phải lắng nghe những âm thanh nhân tạo, như nghe tiếng động cơ tàu khi trồi lên mặt nước, nghe tiếng gọi khẩn cấp của bạn lặn, hoặc liên lạc với nhau trong vùng nước đục. Nhưng để làm tốt điều đó, trước hết chúng ta phải hiểu rõ hơn về khoa học âm thanh dưới nước.

Âm thanh truyền trong nước hiệu quả hơn rất nhiều so với trong không khí. Vì nước "cứng" hơn nên âm thanh truyền trong nước nhanh gấp 4.4 lần trong không khí. Hơn nữa, nhờ việc phản xạ âm thanh ở mặt nước lẫn đáy nước ở vùng nước cạn và kênh dẫn âm nước sâu (SOFAR channel)(*) mà âm thanh truyền đi rất xa, có thể đến hàng chục cây số.

Tuy chúng ta có thể nghe âm thanh rất rõ ở dưới nước, nhưng lại hầu như không thể biết được chúng phát ra từ đâu! Sự mất khả năng định hướng nguồn âm đó là do trong nước chúng ta nghe âm thanh chủ yếu bằng xương chứ không phải bằng hai lỗ tai. Do mặt phân cách nước-khí là một tấm gương phản xạ tốt đối với âm thanh nên lượng âm thanh truyền qua không khí trong lỗ tai để làm rung màng nhĩ là rất ít, và màng nhĩ gần như không thể rung nếu bị nước tràn vào. Phần lớn những gì ta nghe được dưới nước là do sóng âm truyền qua xương sọ, xương ngực, xương khớp tay chân đi thẳng vào tai trong. Chính vì vậy mà chỉ cần ngâm chân xuống nước tới mắt cá là ta đã có thể lắng nghe được những bản nhạc của đại dương rồi. Và khi truyền qua kênh xương thì âm thanh đến hai tai trong của chúng ta giống hệt nhau khiến ta chẳng thể phân biệt được chúng từ đâu tới. (Xem cơ chế định hướng nguồn âm)

Phát ra âm thanh dưới nước

Do nước "cứng" và "đặc" hơn không khí nên cách phát âm thanh trong nước cũng khác nhiều so với trong không khí. Xem cuộc thử nghiệm các nhạc cụ dưới nước trong đoạn phim bên, ta có thể thấy: Thứ nhất, việc phát âm thanh bằng không khí như kèn, sáo, thanh quản (nói chuyện dưới nước) là vô hiệu; Thứ hai, việc phát âm thanh bằng sự rung dây như đàn, hoặc rung mặt như trống cũng gần như vô hiệu vì nước làm dao động của chúng lụi tắt gần như tức thời (như ta lấy tay chặn dây đàn, mặt trống lại vậy); Thứ ba, việc phát âm thanh bằng sự rung khối kim loại như chuông, lục lạc là có hiệu quả, nhưng chúng cũng bị nước cản lại khiến khó ngân vang lâu được. Ứng dụng ý thứ ba đó, các thợ lặn thường dùng dao gõ vào bình hơi hoặc lắc các ống lắc (diver rattle) để gây chú ý.

Giải pháp phát âm thanh dưới nước

Tuy những cách phát âm thanh truyền thống rất kém hiệu quả dưới nước, nhưng những phương tiện hiện đại đã giải quyết được vấn đề đó.

Đầu tiên phải kể đến cái loa, một thiết bị phát thanh vạn năng của con người hiện đại. Chỉ cần ta bỏ thiết bị di động có loa vào túi chống nước, vặn âm ly lớn hơn bình thường (vì âm thanh khó xuyên qua mặt phân cách khí-nước) rồi nhúng xuống nước là ta có thể thoải mái chơi bất kỳ loại nhạc hay âm thanh nào dưới nước được rồi. Ứng dụng ý này, người ta đã chế ra thiết bị báo hiệu khẩn cấp dưới nước cho thợ lặn, chỉ cần bấm nút thì nó sẽ phát ra tiếng động qua một cái loa nhỏ (như hình bên).

Tiếp theo là nhạc cụ nước (hydraulophone), một sáng kiến tuyệt vời của giáo sư công nghệ thông tin Steve Mann từ những năm 1980. Thay luồng khí phát thanh trong các nhạc cụ truyền thống bằng dòng nước, giáo sư Steve Mann đã tạo ra những nhạc cụ vừa chơi được trên bờ lẫn ở dưới nước một cách hoàn hảo.

Nhạc hội dưới nước

Và bằng những tiến bộ kỹ thuật đó, từ năm 1985 người ta đã đưa những chiếc loa nước (**) to xuống biển để tổ chức nhạc hội dưới nước hằng năm cho những người yêu biển cả được thưởng thức âm nhạc cùng với những rạn san hô tuyệt đẹp. Nghe nhạc trong nước, bạn không chỉ nghe bằng tai mà nghe bằng cả cơ thể bạn, sẽ cho bạn một trải nghiệm tuyệt vời (theo lời giới thiệu của ban tổ chức nhạc hội). Chỉ tiếc rằng những nhạc hội này chưa biểu diễn nhạc sống bằng những nhạc cụ nước! (Những người biểu diễn dưới nước chỉ là múa minh hoạ thôi.)

Hi vọng là sau khi đọc bài viết này, trong lần xuống nước tiếp theo bạn sẽ thưởng thức đại dương một cách trọn vẹn hơn! ;)



___________________________

(*): SOFAR channel = "SOund Fixing And Ranging channel" vừa là chữ viết tắt, vừa là cách chơi chữ "SO-FAR" = "Rất Xa" để gợi nhớ về tính chất của kênh dẫn âm này.

(**): Loa nước chỉ khác loa thường (trên bờ) ở chỗ màn rung của loa được làm bằng chất liệu cứng để phù hợp với "độ cứng" của nước.

Cơ chế định hướng nguồn âm: Sở dĩ chúng ta định hướng được nguồn âm ở trên cạn là do 3 yếu tố: một là sự lệch pha của âm thanh khi tới hai tai (chủ yếu đối với âm trầm, tần số thấp), hai là sự lớn bé khác nhau mà mỗi tai nghe được (chủ yếu đối với âm bổng, tần số cao), và ba là sự khác nhau về âm sắc khi âm thanh đến từ phía trước so với đến từ phía sau (do vành tai ta hướng về trước). Khi nguồn âm không ở thẳng trước mặt hoặc thẳng sau lưng mà nghiêng một góc thì sẽ có một bên tai gần hơn và một bên tai xa nguồn âm hơn. Lỗ tai phía xa sẽ nhận được âm thanh chậm pha hơn (tối đa 1 mili giây trong không khí, chưa tới 1/4 mili giây trong nước) và với cường độ yếu hơn (do bị "khuất bóng" sau cái đầu của chúng ta). Cần lưu ý là não chúng ta không thể phân biệt hai tiếng động cách nhau dưới 100 mili giây (1/10 giây), nên việc so sánh độ lệch pha giữa hai sóng âm đến hai tai được thực hiện bằng cơ chế "dò đài" và "so khớp" hai sóng âm trước khi truyền tín hiệu về trung ương thần kinh. Không đi sâu vào cơ chế này (đòi hỏi kiến thức sâu về cơ học sóng), nhưng ta có thể kiểm chứng bằng cách bịt mắt rồi lắng nghe tiếng động xung quanh: Khi vừa mới nghe một tiếng động ta rất khó biết chúng từ đâu đến nhưng lắng nghe một hồi thì sau khi hai tai đã dò qua hết 360 độ (một cách vô thức), nó sẽ tập trung dò vào góc mà 2 sóng âm khớp nhau nhất rồi báo cho ta biết góc tới của âm thanh ta đang lắng nghe (trái/phải, trước/sau bao nhiêu độ). Cơ chế này được chúng ta rèn luyện từ nhỏ ở trên cạn nên đã quen với các "đài" ở trên cạn, đến khi xuống nước thì bị sai đi mất. Nhưng với sự luyện tập để "sửa lại" bộ phận "dò đài", nhiều người vẫn tập định hướng được nguồn âm dưới nước, tuy khá kém chính xác. Và nhiều tài liệu về lặn nói rằng "chúng ta không định vị được nguồn âm do âm thanh truyền trong nước nhanh hơn trong không khí" đã tạo nên sự hiểu lầm nghiêm trọng cho nhiều người.

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2012

Thợ lặn cá mập, những người tìm lại sự công bằng cho cá mập

Nói đến cá mập, hầu như ai cũng rùng mình khiếp sợ trước những cái răng đâm tua tủa trong miệng của nó. Hình ảnh hãi hùng về cá mập như một cỗ máy giết người hàng loạt, một con quái vật kinh tởm một phần là do phim "Hàm Cá Mập" ("Jaws") đã gieo rắc vào tâm trí của người ta và một phần cũng do bản năng săn mồi hung bạo của cá mập cùng với nhiều vụ tấn công con người trên thế giới. Hình ảnh đó xấu đến độ trong phim tài liệu nổi tiếng đầu tiên của thuyền trưởng Jaques Cousteau, cả đoàn thuỷ thủ trên tàu Calypso đã tàn sát một đàn cá mập chỉ vì lòng hận thù!

Sau khi bị giới khoa học chỉ trích, thuyền trưởng Jaques Cousteau đã quan tâm nhiều hơn tới khía cạnh bảo vệ môi trường và tác giả Peter Benchley cũng như đạo diễn Steven Spielberg của phim "Hàm Cá Mập" đã tích cực tìm cách xua đi ấn tượng xấu về cá mập. Thự tế thì trong hơn 360 loài cá mập, chỉ có vài loài là nguy hiểm đối với con người như cá mập trắng lớn (great white shark), cá mập đầu trắng (white-tip shark), cá nhám hổ (tiger shark), cá mập bò (bull shark). Nhưng đa số những vụ tấn công con người đều do cá mập bị nhầm lẫn (VD bóng người lướt ván giống cá con đang nhảy trên mặt nước), bị kích động (cố tình hoặc vô ý chọc phá cá mập), hoặc đơn giản chỉ vì chúng tò mò muốn biết xem "đây là cái gì"! Ngoài ra, có những loài cá mập không hề săn mồi mà chỉ ăn lọc (ăn sinh vật phù du, tảo biển) như cá mập voi (whale shark), cá mập phơi (basking shark)!

Và đến bây giờ thì chính cá mập mới là kẻ cần phải được bảo vệ bởi nhiều loài bị tàn sát hàng loạt, bị cắt vây rồi quẳng xuống biển, và bị đánh bắt vô tội vạ khiến cho số lượng cá mập bị suy giảm trầm trọng trong những năm gần đây. Theo Tổ chức Nông-Lương Liên hiệp quốc (FAO) thì có hơn một nửa số loài cá mập đã bị săn bắt quá mức và đang trên đà tận diệt, trong đó có tới 21% loài cá mập đã bị liệt vào nhóm "có nguy cơ tuyệt chủng". Về chính trị thì một số nước trên thế giới đã bắt tay vào công cuộc bảo vệ cá mập, như Mỹ đã ban hành danh sách những loài cá mập bị cấm săn bắt gồm cá mập trắng lớn, cá mập voi, cá mập phơi,... Còn về ý thức cộng đồng thì nhiều tổ chức cũng như cá nhân đang nỗ lực cải thiện hình ảnh và quan trọng hơn là kiến thức về cá mập cho mọi người, điển hình như dự án AWARE dạy cho dân lặn giải trí kiến thức về cá mập cũng như cách lặn scuba xem cá mập; hay như Mike Rutzen đã dành nhiều thời gian để bơi với cá mập, lặn vo với cá mập để tìm hiểu chúng và để xua tan những nhận thức sai lầm của mọi người về chúng.

Được mệnh danh là "người đàn ông cá mập - sharkman", Mike Rutzen đã bỏ ra nhiều thời gian để bơi với cá mập trắng lớn, đi khắp nơi trên thế giới để tìm hiểu về nhiều loài cá mập khác nhau và loan truyền thông điệp bảo vệ cá mập đến với mọi người. Khác với hình ảnh đen tối thông thường, Mike cho thấy cá mập là loài rất thông minh, thích đùa, hay tò mò, và thích thử mọi thứ bằng... cái miệng của nó! Là một loài động vật săn mồi, cá mập hiển nhiên là rất nguy hiểm (như hổ, rắn), nên khi tiếp cận với chúng, Mike hoàn toàn không dựa vào "vận may" mà anh phải biết rõ con cá mập đó đang "thích đùa" với mình dựa vào cảm nhận và kinh nghiệm của bản thân. Những con cá mập thích đùa thì chuyển động rất khoan thai và không tỏ vẻ hung hăng. Và bằng cảm nhận tinh tường của mình, Mike cho biết cá mập cũng cảm nhận được thái độ của chúng ta để phản ứng lại tuỳ theo cách hành xử của con người.

Một khi đã "làm quen" được với một con cá mập, Mike có thể cưỡi trên lưng nó y như người ta cưỡi trên lưng cá heo vậy!

Không những đùa giỡn với cá mập, Mike còn nghiên cứu cách "thôi miên" chúng, đưa chúng vào trạng thái bất động liệt cơ (tonic immobility), một trạng thái chết giả để giúp cho các nghiên cứu khoa học được thực hiện dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, đối với mỗi loài phải có một cách thôi miên khác nhau, nên Mike đã phải thử nghiệm rất nhiều và luôn luôn lắng nghe những phản ứng của cá mập. Ví dụ dưới đây là cảnh Mike thử nghiệm với con cá mập hổ: Khác với cá mập trắng lớn, Mike không thể thôi miên cá mập hổ bằng cách xoa mũi mà phải vuốt ve hai bên mép của nó.

Còn "thiên thần cá mập - shark angel" Cristina Zenato thì thích thể hiện tình cảm bằng cách hôn cá mập!

Cuối cùng, bonus thêm một clip nghệ thuật cảnh Cristina cho cá mập ăn và đùa giỡn với chúng.

* Chú ý: Tất cả những tương tác trực tiếp với cá mập bên trên đều được thực hiện bởi những chuyên gia về cá mập. Là một loài động vật săn mồi chuyên nghiệp, cá mập hết sức nguy hiểm đối với người thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về chúng. Đặc biệt, để có thể dùng tay trực tiếp cho cá mập ăn, nhất thiết phải mang lưới thép bảo hộ (chain-mail) đề phòng trường hợp các mập cắn nhầm vào tay.

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

Tên các cơn bão nhiệt đới


Ở một đất nước trải dài dọc theo bờ biển như Việt Nam thì khái niệm bão với lũ đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người. Mỗi năm nước ta đón nhận cả chục cơn bão, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của nhân dân. Thuở nhỏ, tôi chỉ biết đến bão qua những con số, nhưng khi sang bên Nhật thì lại chỉ nghe nói về bão qua những cái tên. Và những năm ở Nhật đó (2002-2009) tôi bắt đầu nghe truyền thông nước nhà đề cập đến bão bằng cả số lẫn tên, như bão Chanchu (bão Số 1 năm 2006). Lúc đó tôi cũng đã thấy hơi lạ khi có những cái tên bão rất Việt Nam như bão Saomai nhưng lại chẳng ảnh hưởng tới nước ta (nên cũng không được đánh số ở VN).

Đến bây giờ, khi tìm hiểu kỹ lại thì tôi mới biết rằng "Từ ngày 1-1-2000, 14 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) thuộc khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương góp tên chính thức gọi bão." (theo thoitiet.net). Và từ đó thì các cơn bão ở biển Đông nói riêng và vùng Tây bắc Thái Bình Dương nói chung mới có tên quốc tế thống nhất được đặt một cách tuần tự theo danh sách được đề cử từ 14 nước thành viên, trong đó có Việt Nam. Cụ thể, bảng tên quốc tế gồm 5 cột 28 dòng (mỗi nước có 2 dòng x 5 cột = 10 tên) như sau:
Đóng góp bởi Cột 1 Cột 2 Cột 3 Cột 4 Cột 5
Cambodia Damrey Kong-rey Nakri Krovanh Sarika
China Haikui Yutu Fengshen Dujuan Haima
DPR Korea Kirogi Toraji Kalmaegi Mujigae Meari
HK, China Kai-tak Man-yi Fung-wong Choi-wan Ma-on
Japan Tembin Usagi Kammuri Koppu Tokage
Lao PDR Bolaven Pabuk Phanfone Champi Nock-ten
Macao, China Sanba Wutip Vongfong In-fa Muifa
Malaysia Jelawat Sepat Nuri Melor Merbok
Micronesia Ewiniar Fitow Sinlaku Nepartak Nanmadol
Philippines Maliksi Danas Hagupit Lupit Talas
RO Korea Gaemi Nari Jangmi Mirinae Noru
Thailand Prapiroon Wipha Mekkhala Nida Kulap
U.S.A. Maria Francisco Higos Omais Roke
Việt Nam Son-Tinh Lekima Bavi Conson Sonca
Cambodia Bopha Krosa Maysak Chanthu Nesat
China Wukong Haiyan Haishen Dianmu Haitang
DPR Korea Sonamu Podul Noul Mindulle Nalgae
HK, China Shanshan Lingling Dolphin Lionrock Banyan
Japan Yagi Kajiki Kujira Kompasu Washi
Lao PDR Leepi Faxai Chan-hom Namtheun Pakhar
Macao, China Bebinca Peipah Linfa Malou Sanvu
Malaysia Rumbia Tapah Nangka Meranti Mawar
Micronesia Soulik Mitag Soudelor Rai Guchol
Philippines Cimaron Hagibis Molave Malakas Talim
RO Korea Jebi Neoguri Goni Megi Doksuri
Thailand Mangkhut Rammasun Atsani Chaba Khanun
U.S.A. Utor Matmo Etau Aere Vicente
Việt Nam Trami Halong Vamco Songda Saola


Dựa vào bảng trên, các cơn bão được đặt tuần tự theo từng cột từ trên xuống, từ trái sang phải, liên tiếp qua các năm, và quay trở lại dòng 1 cột 1 khi hết bảng. Bắt đầu từ năm 2000, các tên sẽ được lấy tuần tự trong Cột 1 từ trên xuống, Damrey đến Soulik; Sang năm 2001, lại lấy tiếp từ Cimaron đến Trami, hết Cột 1 thì quay lên đầu Cột 2, từ Kong-rey đến Vamei (nay là Peipah);... Đến giữa mùa bão năm 2005 thì xài hết bảng (bão Saola 2005) rồi quay lại đầu bảng (bão Damrey 2005);... Đến năm nay 2012 thì bắt đầu từ Pakhar, Sanvu ở Cột 5,... lại hết bảng (bão Saola 2012) và lại quay về đầu bảng (bão Damrey 2012)...

Thực ra, bảng tên này không cố định (bảng trên là bảng dành cho năm 2012), mà sau mỗi mùa bão, người ta sẽ lọc ra những cơn bão lớn hoặc gây tổn thất nghiêm trọng để rút tên ra khỏi bảng cho nó được "lưu danh thiên cổ" và thay thế bằng tên khác. Có một điều thú vị là do tính ngẫu nhiên của thời tiết mà rất nhiều cơn bão có tên do nước này đóng góp nhưng lại "lưu danh thiên cổ" trên lãnh thổ của nước khác:
  • Saomai (Việt: hành tinh Sao Mai, Sao Kim) đổ vào Trung Quốc, thay bằng Son-Tinh (Việt: thần núi Sơn Tinh);
  • Durian (Thái: trái sầu riêng) quét qua Philippines và Việt Nam, thay bằng Mangkhut (Thái: trái măng cụt);
  • Rusa (Mã Lai: con hươu, nai) đổ vào Hàn Quốc, thay bằng Nuri (Mã Lai: một loài vẹt ở Malaysia);
  • Nabi (Hàn: con bươm bướm) đổ vào Nhật Bản, thay bằng Doksuri (Hàn: chim đại bàng, diều hâu);
  • Vamei (Hoa: chim hoét 畫眉) quét qua Malaysia, thay bằng Peipah (Hoa: một loài cá cảnh ở Macao);
  • Pongsona (Hàn: một loài hoa thơm ở Bắc Triều Tiên) quét qua đảo Guam (của Mỹ), thay bằng Noul (Hàn: vầng hồng trên bầu trời).


Ngoài hệ thống tên trong bảng trên, mỗi cơn bão ở Tây Bắc Thái Bình Dương cũng được gán một mã số theo định dạng YYNN, với YY chỉ năm mà bão phát sinh và NN là số thứ tự của nó trong năm. Và lưu ý là số thứ tự NN này là thứ tự bão hằng năm trong toàn khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, khác với số thứ tự bão hằng năm ở nước ta chỉ được đánh cho những cơn bão đi vào vùng ảnh hưởng đến Việt Nam (biển Đông). Hơn nữa, nhiều cơn bão ảnh hưởng đến Philippines cũng được Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) đặt tên theo hệ thống riêng của họ. Ví dụ, bão Vicente 2012 có mã 1208 là cơn bão thứ 8 trong khu vực được đặt tên quốc tế trong năm nay, cũng là bão "Số 4" tức cơn bão thứ 4 ảnh hưởng đến nước ta năm nay, và có tên Philippines là Ferdie. Sự khác biệt của các hệ thống tên và số trong khu vực cũng gây nhiều phiền toái: Những cơn bão không ảnh hưởng đến Việt Nam thì không có số (VN) nên phải dùng tên quốc tế, như cơn bão Saola được đề cập đến trong chuyến khảo sát biển vừa rồi; Ngược lại, những cơn bão nhỏ ở vùng Biển Đông có khi được VN đánh số nhưng lại không có tên quốc tế (chỉ coi là áp thấp nhiệt đới).

Ngoài khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương ra, chỉ có khu vực Bắc Ấn Độ Dương là có bảng tên bão được cấu trúc một cách tương tự: các tên bão được đóng góp bởi nhiều quốc gia, thường không phải tên người và xếp thứ tự theo tên quốc gia chứ không phải theo tên bão. Còn lại thì hầu hết các vùng biển khác đều có bảng tên bão được đặt theo tên người và xếp thứ tự theo tên bão. Hầu hết các bảng tên đều có luật "rút tên" để "lưu đanh thiên cổ", nhưng ở vùng Ấn Độ Dương (Bắc Ấn Độ Dương và Tây Nam Ấn Độ Dương) thì tên bão không lặp lại nên không có luật "rút tên"!


________________________________

Tài liệu tham khảo:

- Bảng tên bão dùng cho vùng Tây Bắc Thái Bình Dương và Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa)
- Danh sách các tên bão đã "nghỉ hưu" trong vùng Tây Bắc Thái Bình Dương
- Các bảng tên bão trên thế giới
- [VOV] Tên các cơn bão được đặt như thế nào?
- [thoitiet.net] Bão và mấy điều cần nhớ
- Thông tin hiện tại về bão, từ Cơ quan Khí tượng Nhật Bản
- Danh sách các mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Bạn đã từng gặp Trai khổng lồ?





Trái ngược với điều một vài người thường nghĩ – Trai khổng lồ (Giant clams) không kẹp những thợ lặn cả tin! Những con trai khổng lồ có thể phát triển dài hơn 3 feet (1 m) và có thể sống ít nhất 70 tuổi. 
Bạn có biết rằng phần lớn loài trai khổng lồ là loài lưỡng tính? simultaneous hermaphrodites ( con vật có cả hai giới tính cùng lúc) Viên ngọc trai lớn nhất thế giới được tìm thấy trong trai khổng lồ và được bán ở New York với giá khoảng 10 triệu USD! Nếu như bạn lặn ở Great Barrier Reef rất có thể bạn sẽ thấy loài sinh vật đáng kinh ngạc này. Bạn đã từng nhìn thấy chúng khi lặn biển chưa? Ở đâu? Hãy chia sẻ câu chuyện của bạn với chúng tôi


Theo: PADI trên FB.

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2012

Kiến trúc đá ngầm kỳ lạ ở Yonaguni - Nhật Bản



Năm 1987, trong khi đi tìm điểm lặn mới và nơi để quan sát cá mập ở Yonaguni, thuộc quần đảo Okinawa, cực tây nam Nhật Bản, Kihachiro Aratake đã "nổi da gà" khi phát hiện ra kiến trúc đá hùng vĩ này. Nhưng vì vùng biển này khá động và có dòng chảy mạnh nên hầu như thế giới chẳng biết đến kiến trúc này mãi cho đến khi có những bức ảnh đầu tiên được đưa lên mạng Internet. Những người nước ngoài đầu tiên đến với kiến trúc đá này là những nhà địa chất học, khảo cổ học. Năm 1997, đài BBC 4, đài Discovery Channel cùng nhiều thợ lặn chuyên nghiệp và nhà kinh tế học kiêm tác giả những đầu sách nổi tiếng về các kiến trúc vĩ đại trên thế giới Graham Hencock đã thực hiện cuộc thám hiểm khám phá toàn bộ kiến trúc khổng lồ này để thu thập thông tin. Ngoài ra, vận động viên lặn tự do Jacques Mayol cũng đã lặn ở đây và viết một quyển sách về chuyến lặn đó.

Đây là một kiến trúc đá nguyên khối và gắn liền với nền đá bên dưới, với rất nhiều những chi tiết rất "phi tự nhiên" như: Cặp trụ đá song song, những lối đi, rãnh nước thoát, các bậc thềm vuông vức, hồ tam giác,... Kiến trúc này nhìn tổng thể là một khối trụ cao 27m rộng 150m x 40m với đỉnh cách mặt nước 5m. Những chi tiết kiến trúc cho thấy đây có thể là một đền thờ cổ đại. Nhưng việc nó làm bằng đá nguyên khối cùng với việc nó chìm dưới đáy biển đang là thử thách lớn nhất đối với giả thiết "nhân tạo" của nó. Nằm trong Tam giác Rồng (hay vùng Biển Ma), kiến trúc này cùng với những kiến trúc khác dưới đáy biển ở Tam giác Quỷ Berbuda dường như đang chứa đựng trong mình rất nhiều bí mật về những nền văn minh cổ đại hoặc thậm chí người ngoài hành tinh...

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

Freediving ở Côn Đảo

Mình đi Côn Đảo về đã 2 tuần rồi mà bận quá nên giờ mới tranh thủ lên blog ghi chú lại vài chữ. (Chứ bắt đầu từ tuần sau là vô học rồi, còn bận hơn nữa!)

Ở Côn Đảo thì mùa biển động là từ tháng 9 đến tháng hết tháng 2 năm sau. Ngoài khoảng đó ra thì nếu không có bão, Côn Đảo luôn sẵn sàng đón tiếp mọi người. Thực ra thì trong mùa biển động vẫn lặn được, chỉ có điều là giao thông cách trở (phải đi máy bay), giá cả đắt đỏ (do không có tàu chở hàng ra), và tầm nhìn xa dưới biển hơi giảm tí thôi. Thực tế là chuyến đi vừa rồi của mình là cuối tháng 8, gần đến mùa biển động rồi nhưng biển Côn Đảo vẫn đẹp, rất êm, và ít mưa.


Ở Côn Đảo có 2 hệ thống bãi biển, một là những bãi cát (đường vàng trên bản đồ), và hai là những đầm/bãi đá (đường xanh trên bản đồ). Ở hầu hết các đầm/bãi đá đều có san hô nên chỉ cần ra khỏi bãi đá cạn là có thể snorkeling hoặc freediving được rồi. Chỉ có điều là khi nước ròng thì các bãi đá cạn thường nhô lên khỏi mặt nước hoặc chỉ cách mặt nước chừng gang tay, nên rất khó vượt qua những bãi đá rộng mấy chục mét đó.
Trong các bãi cát thì cũng có nhiều bãi có rạn san hô ở hai đầu mút của bãi. Nói chung là hầu như bãi nào ở Côn Đảo cũng đều có san hô cả, không gần thì xa thôi!



Ngoài ra, ở những đầm/bãi đá thường có hệ sinh thái rừng ngập mặn, và trong bãi đá cạn của nó cũng có san hô, tuy không đẹp lắm, nhưng được cái là có thể thoải mái đứng ngắm và chụp hình mà không cần đụng vào nước!



Kỳ rồi ra Côn Đảo, mình không có máy chụp hình dưới nước nhưng vẫn chộp được vài tấm san hô, âu cũng là nhờ những bãi đá cạn đó.


Loài thân mềm này bình thường nở ra như hoa, thấy động thì cụp lại thành 1 cái khe.


Loài thân cứng này chẳng hiểu sao lại có 2 màu đỏ/trắng cứ như bị lang beng ấy!


Những lá tảo trắng này mọc rất nhiều ở vùng đá cạn nhưng không biết tên. Bên cạnh còn có những hạt tròn màu xanh, rồi những cái "miệng núi lửa" nữa... (Chắc phải học một khoá national geography mới nắm được quá!)


Và san hô ở những bãi đá cạn này cũng thú vị ở chỗ chúng cho ta thấy rõ mô hình và quá trình hình thành của những atoll (đảo san hô vòng). Như hình trên, một hòn đá (núi) trồi lên khỏi mặt nước thì sẽ bị san hô ăn cụt đi tạo thành san hô vòng với lagoon (phá) ở giữa và wall reef (tường san hô) xung quanh. Còn những hòn đá (núi) ngầm thì tạo nên những ốc đảo san hô (tương ứng với khối san hô tròn màu tím đen trong hình).


Và loài hải sâm này cũng khá phổ biến trên những bãi cạn.



Hồi ra Hòn Bảy Cạnh, mình đã lặn vo ở cái rạn san hô bên mép phải bãi Cát Lớn. Nhưng ở đây có một điều làm mình và người bạn đi cùng hết sức thất vọng, đó là cả một vạt san hô rộng lớn chỗ neo thuyền đã bị tàn phá tan nát rất thảm thương. Mặc dù hiện giờ ở đó đã có phao đỏ & dây neo thuyền rồi nhưng hình như vẫn còn thuyền thả neo xuống đấy hay sao ấy?! Bọn mình đã phải ra khá xa ngoài đáy cát với nền cát sâu cỡ 10m mới tìm được 2 ốc đảo san hô còn 99% nguyên vẹn (1% là... vẫn có cành san hô bị gãy!)

Ngoài việc ngắm san hô ra thì chuyến đi vừa rồi "nhờ" chứng bệnh viêm họng mà mình được trải nghiệm thực tế các vấn đề trong kỹ thuật cân bằng áp suất. Số là cái họng mình đã dở chứng từ trước chuyến đi cả tuần lễ rồi nhưng chưa phát bệnh. Trải qua 2 đêm mưa gió trong rừng ở Hồ Cốc thì khi tới Côn Đảo, mình đã thực sự bị viêm họng. Vì mới viêm nên họng chỉ sưng mà chưa có ra đờm. Nhờ thế mà lần lặn vo ngày đầu tiên của mình ở bãi Ông Đụng thật là suôn sẻ. Đêm hôm đó, nó bắt đầu ra đờm, báo hiệu cho những ngày "tắc nghẽn" tiếp theo. Quả đúng vậy, buổi lặn vo ngày hôm sau ở bãi Đầm Trầu thật là khó nhọc. Nếu hôm qua mình xuống 6-7 mét nước nằm thoải mái mà trên đường lên xuống chẳng cần phải đụng tới lỗ mũi (cân bằng "nuốt", hand-free eq.), thì hôm nay mình vừa xuống vừa bịt mũi thổi (Valsalva maneuver), thổi đến ná thở mà cũng chẳng thể thông được lỗ tai! Còn tệ hơn nữa, đó là có lúc thông được thì lại chỉ được bên phải còn bên trái vẫn nghẹt cứng. Khi lên bờ, mình thử nuốt nước miếng thì thấy đúng là cái ống Eustachian bên tai trái mình nghẹt thiệt, chỉ nghe nổ (thông ống) ở bên phải thôi. Vậy là cả 2 triệu chứng (nghẹt, thông một bên) hồi đó giờ mình đọc trong sách vở đã được trải nghiệm cùng một lúc. Ngày hôm sau nữa thì đờm có phần giảm bớt, nên ở bãi Cát Lớn - Hòn Bảy Cạnh mình vẫn có thể bịt mũi cân bằng được, dù hơi cực nhọc một tí.

Cũng ở bãi Cát Lớn đó, anh bạn đi chung vừa được mình chỉ freediving 2 ngày nay đã phải lặn theo mình lòng vòng quanh mấy cái ốc đảo san hô. Thế là khi lên, anh ta bảo rằng hôm nay cảm thấy hơn khó chịu khi bị mình "quần" dữ quá, có vẻ như chóng mặt hay say gì đó. Mình cũng không hiểu là anh ta bị vấn đề gì nữa, vì từ nhỏ mình đã "biết lặn trước biết bơi" và hoàn toàn không có kinh nghiệm đó. Bác nào có kinh nghiệm chóng mặt hay say khi lặn vo thì chia sẻ với mình nhé.